ĐNA - Trong kỷ nguyên số, thương mại điện tử (TMĐT) trở thành động lực quan trọng của nền kinh tế, làm thay đổi phương thức kinh doanh và mở rộng cơ hội tiếp cận thị trường. Năm 2024, quy mô TMĐT Việt Nam ước đạt trên 25 tỷ USD, tăng trưởng bình quân 20-25%/năm. Tuy nhiên, bên cạnh tiềm năng phát triển, TMĐT cũng đối mặt với nhiều thách thức về an ninh mạng, hàng giả, dữ liệu, pháp lý và niềm tin người tiêu dùng, đòi hỏi xây dựng hệ sinh thái thương mại số an toàn, minh bạch và bền vững.

 Những cơ hội lớn của thương mại điện tử trong thời đại số
Mở rộng thị trường, xóa bỏ rào cản địa lý
. Thương mại điện tử (TMĐT) giúp doanh nghiệp vượt qua giới hạn về không gian, mở rộng khả năng tiếp cận khách hàng trong nước và quốc tế thông qua các sàn giao dịch điện tử, website và mạng xã hội. Đặc biệt, TMĐT xuyên biên giới mở ra cơ hội đưa nông sản, sản phẩm làng nghề, hàng thủ công mỹ nghệ Việt Nam vươn ra thị trường toàn cầu thông qua các nền tảng như Amazon, Alibaba và nhiều kênh phân phối trực tuyến khác. Chương trình Mỗi xã một sản phẩm (OCOP) cũng được hưởng lợi từ xu hướng này khi nhiều sản phẩm địa phương có thêm kênh tiêu thụ, nâng cao giá trị và khả năng cạnh tranh. Tính đến cuối năm 2024, cả nước có hơn 13.000 sản phẩm OCOP được đưa lên các sàn TMĐT, góp phần mở rộng đầu ra, cải thiện thu nhập cho nông dân, hợp tác xã và các cơ sở sản xuất.

Giảm chi phí, nâng cao hiệu quả vận hành. Mô hình kinh doanh trực tuyến cho phép doanh nghiệp hoạt động liên tục, tự động hóa quy trình xử lý đơn hàng, tiết giảm chi phí mặt bằng, nhân sự và các khâu trung gian. Việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn và điện toán đám mây giúp doanh nghiệp phân tích hành vi tiêu dùng, dự báo nhu cầu thị trường, quản lý hàng tồn kho và cá nhân hóa trải nghiệm khách hàng. Đặc biệt, AI tạo sinh đang mở ra khả năng ứng dụng rộng rãi trong xây dựng nội dung quảng cáo, mô tả sản phẩm, tư vấn khách hàng bằng chatbot và phát triển công nghệ thử sản phẩm ảo, qua đó nâng cao năng suất, chất lượng dịch vụ và hiệu quả kinh doanh.

Hình thành các phương thức kinh doanh mới. Sự phát triển của bán hàng qua livestream, thương mại trên mạng xã hội (social commerce), tiếp thị thông qua người có ảnh hưởng (KOL/KOC), video ngắn và thương mại tức thời (quick commerce) đang làm thay đổi cách thức tiếp cận, tương tác và phục vụ khách hàng. Những mô hình này tạo sự kết nối trực tiếp giữa hoạt động quảng bá, giải trí và mua sắm, thúc đẩy quyết định tiêu dùng nhanh chóng hơn. Đồng thời, sự phát triển của các nền tảng số tạo điều kiện để cá nhân kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và các thương hiệu mới xây dựng kênh phân phối, phát triển thị trường mà không cần đầu tư lớn vào hệ thống bán lẻ truyền thống.

Thúc đẩy thanh toán số và dịch vụ logistics. Sự phát triển đồng bộ của ngân hàng số, ví điện tử, thanh toán không dùng tiền mặt, hệ thống kho vận và dịch vụ giao hàng nhanh đang tạo nền tảng thuận lợi cho TMĐT phát triển. Các phương thức thanh toán đa dạng, quy trình giao nhận ngày càng được tối ưu giúp nâng cao trải nghiệm người tiêu dùng, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp mở rộng phạm vi kinh doanh và nâng cao hiệu quả phân phối hàng hóa. Tính đến cuối năm 2024, tỷ lệ thanh toán không dùng tiền mặt trong TMĐT đạt trên 70%, với sự tham gia của hơn 50 tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán. Đây là điều kiện quan trọng để thúc đẩy giao dịch trực tuyến, phát triển hệ sinh thái thương mại số hiện đại.

Tạo động lực thúc đẩy chuyển đổi số nền kinh tế. TMĐT không chỉ mở rộng phương thức tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ mà còn thúc đẩy doanh nghiệp đổi mới mô hình quản trị, tổ chức sản xuất, tiếp thị, thanh toán và chăm sóc khách hàng. Quá trình tham gia thị trường trực tuyến đòi hỏi doanh nghiệp nâng cao năng lực ứng dụng công nghệ, khai thác dữ liệu, đổi mới sáng tạo và thích ứng với xu hướng tiêu dùng số. Qua đó, TMĐT góp phần thúc đẩy chuyển đổi số trong các ngành, lĩnh vực, nâng cao năng suất, sức cạnh tranh của doanh nghiệp và từng bước khẳng định vai trò là một trong những động lực tăng trưởng quan trọng của kinh tế số Việt Nam.

Những rủi ro và thách thức của thương mại điện tử trong thời đại số
Rủi ro về an ninh mạng và bảo vệ dữ liệu cá nhân
. Sự phát triển mạnh mẽ của thương mại điện tử (TMĐT) kéo theo nguy cơ mất an toàn thông tin, đặc biệt đối với dữ liệu cá nhân như họ tên, địa chỉ, số điện thoại, tài khoản thanh toán và lịch sử giao dịch. Khi những thông tin này bị đánh cắp, rò rỉ hoặc sử dụng trái phép, người tiêu dùng có thể trở thành mục tiêu của các hành vi lừa đảo, giả mạo danh tính và chiếm đoạt tài sản. Đối với doanh nghiệp, sự cố an ninh mạng không chỉ gây thiệt hại về tài chính mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín và niềm tin của khách hàng. Theo số liệu được dẫn từ Cục An toàn thông tin (Bộ Thông tin và Truyền thông), năm 2024 ghi nhận hơn 15.000 vụ tấn công mạng nhằm vào các hệ thống TMĐT, gây thiệt hại ước tính hàng nghìn tỷ đồng. Thực tế này đặt ra yêu cầu bảo vệ dữ liệu và bảo đảm an toàn thông tin phải trở thành trách nhiệm thường xuyên, xuyên suốt trong hoạt động kinh doanh trực tuyến.

Hàng giả, hàng nhái và thông tin thương mại thiếu minh bạch. Môi trường trực tuyến tạo điều kiện thuận lợi cho việc quảng bá, phân phối hàng hóa nhưng cũng tiềm ẩn nguy cơ phát sinh hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng và quảng cáo sai sự thật. Người tiêu dùng có thể mua phải sản phẩm không đúng mô tả, không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc không bảo đảm chất lượng như cam kết. Trong khi đó, việc kiểm tra, xác minh thông tin người bán và kiểm soát chất lượng hàng hóa trên các nền tảng số vẫn còn nhiều khó khăn, nhất là đối với hoạt động kinh doanh xuyên biên giới. Nếu không có cơ chế quản lý, giám sát và xử lý vi phạm hiệu quả, những hiện tượng này sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi người tiêu dùng, gây bất lợi cho doanh nghiệp kinh doanh chân chính và làm suy giảm niềm tin đối với thị trường TMĐT.

Gian lận và lừa đảo trực tuyến ngày càng tinh vi. Các hành vi gian lận trong TMĐT liên tục biến đổi về phương thức, thủ đoạn, từ giả mạo người bán, sàn giao dịch, ngân hàng, đơn vị vận chuyển đến thiết lập website, đường dẫn và tài khoản mạng xã hội giả để chiếm đoạt tiền, thông tin cá nhân. Đáng chú ý, sự phát triển của trí tuệ nhân tạo (AI), đặc biệt là công nghệ tạo sinh hình ảnh, giọng nói và video, đang làm gia tăng nguy cơ giả mạo danh tính với mức độ tinh vi, khó nhận biết hơn. Điều này đặt ra yêu cầu tăng cường các biện pháp xác thực, cảnh báo và phòng ngừa gian lận từ phía nền tảng, doanh nghiệp, đồng thời nâng cao kỹ năng số và khả năng nhận diện lừa đảo của người tiêu dùng.

Cạnh tranh thiếu bình đẳng và nguy cơ phụ thuộc vào nền tảng số. Các sàn TMĐT và mạng xã hội giúp doanh nghiệp nhỏ, hộ kinh doanh tiếp cận lượng khách hàng lớn mà không phải đầu tư nhiều vào hệ thống phân phối truyền thống. Tuy nhiên, lợi thế này cũng đi kèm nguy cơ phụ thuộc vào thuật toán tìm kiếm, cơ chế hiển thị sản phẩm, chính sách phí, quảng cáo và các quy định vận hành của nền tảng. Những thay đổi về thuật toán hoặc chính sách kinh doanh có thể tác động trực tiếp đến khả năng tiếp cận khách hàng, chi phí vận hành và doanh thu của người bán. Bên cạnh đó, sự chênh lệch về nguồn lực tài chính, công nghệ và khả năng khai thác dữ liệu giữa các doanh nghiệp lớn với doanh nghiệp nhỏ có thể làm gia tăng bất bình đẳng trong cạnh tranh, ảnh hưởng đến tính đa dạng và sự phát triển lành mạnh của thị trường.

 Áp lực cạnh tranh về giá và nguy cơ phát triển thiếu bền vững. Các chương trình khuyến mại, giảm giá sâu, bán hàng qua livestream và chiến dịch tiếp thị quy mô lớn góp phần kích thích nhu cầu mua sắm, gia tăng doanh số trong ngắn hạn. Tuy nhiên, việc quá chú trọng cạnh tranh bằng giá có thể khiến doanh nghiệp phải thu hẹp biên lợi nhuận, cắt giảm chi phí sản xuất, dịch vụ hoặc chất lượng sản phẩm để duy trì thị phần. Đồng thời, các hình thức quảng bá tạo tâm lý mua sắm tức thời cũng có thể thúc đẩy hành vi tiêu dùng thiếu cân nhắc. Nếu chỉ tập trung vào doanh số trước mắt mà thiếu chiến lược đầu tư cho chất lượng, uy tín và giá trị thương hiệu, doanh nghiệp sẽ khó duy trì lợi thế cạnh tranh và phát triển lâu dài.

Thách thức về pháp lý và trách nhiệm của các chủ thể tham gia. Tốc độ phát triển nhanh của TMĐT, đặc biệt là các mô hình kinh doanh trên mạng xã hội, nền tảng xuyên biên giới và ứng dụng công nghệ mới, đặt ra nhiều vấn đề đối với công tác quản lý nhà nước. Những yêu cầu về quản lý thuế, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, bảo vệ dữ liệu cá nhân, kiểm soát hàng hóa và xác định trách nhiệm của các nền tảng cần tiếp tục được hoàn thiện, đáp ứng thực tiễn phát triển. Đối với TMĐT xuyên biên giới, sự khác biệt về hệ thống pháp luật, chính sách thuế, thủ tục hải quan và cơ chế giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia càng làm gia tăng tính phức tạp. Vì vậy, việc hoàn thiện khung pháp lý cần bảo đảm sự cân bằng giữa yêu cầu quản lý, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên và tạo môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo, phát triển kinh tế số.

Rủi ro về đạo đức kinh doanh và trách nhiệm phát triển bền vững. Bên cạnh các vấn đề pháp lý, TMĐT còn đối mặt với những thách thức liên quan đến tính trung thực trong quảng cáo, trách nhiệm xã hội và bảo vệ môi trường. Một số doanh nghiệp có thể lợi dụng xu hướng tiêu dùng xanh để quảng bá sản phẩm thân thiện với môi trường khi chưa có căn cứ xác thực, dẫn đến hiện tượng “tẩy xanh”, gây hiểu lầm và làm suy giảm niềm tin của người tiêu dùng. Ngoài ra, việc bảo đảm quyền lợi của người bán nhỏ, điều kiện lao động trong chuỗi cung ứng, minh bạch nghĩa vụ thuế và trách nhiệm đối với môi trường cũng cần được quan tâm. Đây là những yếu tố quan trọng để xây dựng môi trường kinh doanh trực tuyến công bằng, có trách nhiệm và hướng tới phát triển bền vững.

Khoảng cách số và rào cản trong tiếp cận thương mại điện tử. Mặc dù hạ tầng Internet và các dịch vụ số ngày càng phổ biến, khả năng tiếp cận và tham gia TMĐT giữa các nhóm dân cư, địa phương vẫn còn chênh lệch. Người cao tuổi, người dân ở vùng sâu, vùng xa, đồng bào dân tộc thiểu số và một bộ phận hộ kinh doanh nhỏ còn gặp khó khăn về thiết bị, kết nối Internet, kỹ năng công nghệ và khả năng sử dụng các phương thức thanh toán số. Những hạn chế này không chỉ ảnh hưởng đến cơ hội mua sắm, tiếp cận dịch vụ của người tiêu dùng mà còn làm giảm khả năng tham gia thị trường trực tuyến của các cơ sở sản xuất, kinh doanh tại địa phương. Nếu không có giải pháp thu hẹp khoảng cách số, lợi ích từ sự phát triển của TMĐT có nguy cơ phân bổ không đồng đều, làm gia tăng chênh lệch về cơ hội kinh tế giữa các nhóm dân cư và vùng miền.

Thách thức về hạ tầng logistics và giao hàng chặng cuối. Mặc dù hệ thống kho vận, vận chuyển và giao nhận hàng hóa tại Việt Nam đã có nhiều bước tiến, chi phí logistics vẫn là một trong những yếu tố ảnh hưởng lớn đến hiệu quả hoạt động TMĐT. Theo số liệu được nêu, chi phí logistics chiếm khoảng 15-20% giá thành sản phẩm, tạo áp lực đối với doanh nghiệp, nhất là các cơ sở sản xuất, kinh doanh quy mô nhỏ. Bên cạnh đó, hạ tầng giao thông và mạng lưới giao nhận tại một số khu vực vùng sâu, vùng xa còn hạn chế, khiến thời gian vận chuyển kéo dài và chi phí giao hàng chặng cuối tăng cao. Đối với nông sản, thực phẩm tươi sống và hàng hóa cần điều kiện bảo quản đặc biệt, những hạn chế về kho lạnh, đóng gói và vận chuyển càng làm gia tăng nguy cơ hao hụt, suy giảm chất lượng. Việc phát triển hạ tầng logistics đồng bộ, hiện đại, gắn với tối ưu hóa chuỗi cung ứng vì vậy là yêu cầu quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy TMĐT phát triển bền vững.

Giải pháp phát triển thương mại điện tử an toàn và bền vững
Để thương mại điện tử (TMĐT) phát triển an toàn, minh bạch và bền vững, cần triển khai đồng bộ các giải pháp từ hoàn thiện thể chế, bảo đảm an ninh mạng, nâng cao năng lực sản xuất, kinh doanh đến phát triển hạ tầng và xây dựng niềm tin thị trường. Trong đó, sự phối hợp chặt chẽ và xác định rõ trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước, doanh nghiệp, nền tảng số, cơ sở sản xuất và người tiêu dùng giữ vai trò quyết định.

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, pháp luật và nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Tiếp tục rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật về TMĐT, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, bảo vệ dữ liệu cá nhân, quản lý thuế và trách nhiệm của các nền tảng số. Tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm các hành vi kinh doanh hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng, quảng cáo sai sự thật và gian lận thương mại. Đối với hoạt động TMĐT xuyên biên giới, cần hoàn thiện cơ chế quản lý thuế, thủ tục hải quan, kiểm soát chất lượng hàng hóa và giải quyết tranh chấp phù hợp với thông lệ quốc tế. Đồng thời, tăng cường phối hợp liên ngành giữa các cơ quan quản lý trong lĩnh vực công thương, tài chính, công nghệ, an ninh mạng và ngân hàng nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, kịp thời phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm. Cùng với việc áp dụng chế tài đủ sức răn đe, cần xác định rõ trách nhiệm của các sàn TMĐT trong kiểm soát hoạt động kinh doanh, xác thực thông tin người bán và phối hợp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

 Thứ hai, tăng cường bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo đảm an ninh mạng. Doanh nghiệp và các nền tảng TMĐT cần chủ động đầu tư hệ thống bảo mật, áp dụng các giải pháp xác thực nhiều lớp, kiểm soát quyền truy cập, giám sát giao dịch bất thường và xây dựng phương án ứng phó sự cố an ninh mạng. Khuyến khích ứng dụng các mô hình bảo mật hiện đại như Zero Trust (không tin cậy mặc định), xác thực sinh trắc học trong thanh toán và công nghệ AI để phát hiện, cảnh báo sớm nguy cơ gian lận. Bên cạnh các giải pháp kỹ thuật, doanh nghiệp phải xây dựng quy trình thu thập, lưu trữ, xử lý và sử dụng dữ liệu khách hàng đúng quy định, bảo đảm tính minh bạch và an toàn thông tin. Bảo vệ dữ liệu cá nhân cần được xác định là trách nhiệm cốt lõi trong quản trị doanh nghiệp, gắn trực tiếp với uy tín thương hiệu và niềm tin của người tiêu dùng.

Thứ ba, nâng cao năng lực sản xuất, chất lượng sản phẩm và liên kết chuỗi giá trị. Phát triển TMĐT bền vững phải bắt đầu từ nền tảng sản xuất thực chất, sản phẩm có chất lượng, nguồn gốc rõ ràng và khả năng cung ứng ổn định. Các cơ sở sản xuất, hợp tác xã và doanh nghiệp cần đẩy mạnh chuẩn hóa quy trình theo các tiêu chuẩn phù hợp như VietGAP, GlobalGAP, HACCP, ISO; thực hiện ghi chép nhật ký sản xuất, kiểm soát nguyên liệu đầu vào và nâng cao chất lượng sản phẩm. Tăng cường ứng dụng công nghệ truy xuất nguồn gốc bằng mã QR, blockchain và các hệ thống quản lý dữ liệu, kết nối thông tin sản phẩm với nền tảng TMĐT. Đồng thời, đầu tư công nghệ sơ chế, bảo quản, đóng gói đáp ứng yêu cầu vận chuyển và phân phối, nhất là đối với nông sản, thực phẩm. Khuyến khích ứng dụng cảm biến, Internet vạn vật (IoT) và AI trong giám sát sản xuất, quản lý chất lượng và dự báo nhu cầu thị trường. Đặc biệt, cần thúc đẩy liên kết giữa cơ sở sản xuất, hợp tác xã, doanh nghiệp phân phối và các sàn TMĐT, hình thành chuỗi cung ứng ổn định, nâng cao giá trị sản phẩm và mở rộng thị trường tiêu thụ. Nhà nước cần có chính sách hỗ trợ đổi mới công nghệ, đào tạo kỹ năng số, phát triển thương hiệu và nâng cao năng lực cạnh tranh cho các chủ thể sản xuất.

Thứ tư, nâng cao năng lực kinh doanh số và khả năng tự chủ của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần chuyển từ tư duy đơn thuần “bán hàng trên nền tảng” sang xây dựng năng lực kinh doanh số toàn diện, chủ động và bền vững. Theo đó, cần đa dạng hóa kênh phân phối, kết hợp sàn TMĐT, website riêng, mạng xã hội và các phương thức bán hàng trực tiếp nhằm hạn chế sự phụ thuộc vào một nền tảng hoặc thuật toán. Đồng thời, chú trọng xây dựng thương hiệu, quản trị dữ liệu khách hàng theo đúng quy định, ứng dụng công nghệ trong quản lý đơn hàng, dự báo nhu cầu, chăm sóc khách hàng và tối ưu hoạt động tiếp thị. Việc đào tạo nhân lực về marketing số, quản trị vận hành, dịch vụ khách hàng và xử lý khủng hoảng truyền thông cần được thực hiện thường xuyên. Bên cạnh đó, doanh nghiệp phải tăng cường kiểm soát nguồn hàng, bảo đảm chất lượng sản phẩm, minh bạch thông tin và thực hiện đầy đủ trách nhiệm đối với người tiêu dùng, tạo lợi thế cạnh tranh dựa trên uy tín và giá trị thực thay vì chỉ tập trung vào giảm giá, khuyến mại.

Thứ năm, thúc đẩy thương mại điện tử xanh gắn với kinh tế tuần hoàn. Phát triển TMĐT cần đi đôi với sử dụng hiệu quả tài nguyên, giảm phát thải và hạn chế tác động tiêu cực đến môi trường. Các cơ sở sản xuất cần chú trọng áp dụng quy trình sản xuất sạch, sử dụng nguyên liệu thân thiện môi trường, xử lý chất thải đúng quy định, tận dụng phụ phẩm và phát triển các mô hình tái chế, tái sử dụng phù hợp. Doanh nghiệp phân phối và đơn vị logistics cần đẩy mạnh sử dụng bao bì tái chế, giảm vật liệu đóng gói không cần thiết, tối ưu tuyến đường vận chuyển và ứng dụng công nghệ để tiết kiệm nhiên liệu, giảm phát thải. Các nền tảng TMĐT cần khuyến khích kinh doanh sản phẩm xanh, đồng thời kiểm soát thông tin quảng cáo, ngăn ngừa hành vi “tẩy xanh” gây hiểu lầm cho người tiêu dùng. Về phía Nhà nước, cần nghiên cứu cơ chế hỗ trợ, ưu đãi đối với hoạt động sản xuất, phân phối và tiêu dùng bền vững; thúc đẩy các mô hình kinh tế tuần hoàn trong chuỗi thương mại số.

Thứ sáu, phát triển hạ tầng logistics và thu hẹp khoảng cách số. Nhà nước cần tiếp tục đầu tư, hoàn thiện hệ thống giao thông, kho bãi, trung tâm logistics và mạng lưới giao nhận hàng hóa, đặc biệt tại các vùng sản xuất nông nghiệp tập trung, vùng sâu, vùng xa và khu vực có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư kho vận thông minh, hệ thống bảo quản lạnh, ứng dụng AI, IoT và dữ liệu lớn trong quản lý chuỗi cung ứng, tối ưu vận chuyển và giảm chi phí giao hàng chặng cuối. Song song với phát triển hạ tầng logistics, cần mở rộng khả năng tiếp cận Internet, thiết bị số, thanh toán điện tử và các dịch vụ hỗ trợ TMĐT cho người dân. Đẩy mạnh chương trình đào tạo, phổ cập kỹ năng số cho hộ kinh doanh, nông dân, người cao tuổi, đồng bào dân tộc thiểu số và người dân tại các địa bàn khó khăn. Qua đó, tạo điều kiện để các nhóm dân cư và chủ thể kinh tế tham gia bình đẳng hơn vào thị trường số, từng bước thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng miền.

Thứ bảy, nâng cao kỹ năng số và ý thức tự bảo vệ của người tiêu dùng. Cùng với trách nhiệm của cơ quan quản lý và doanh nghiệp, người tiêu dùng cần chủ động trang bị kiến thức, kỹ năng mua sắm an toàn trên môi trường trực tuyến. Trong đó, chú trọng kiểm tra thông tin người bán, nguồn gốc, xuất xứ, chất lượng sản phẩm; nhận diện các dấu hiệu giả mạo tài khoản, website, đường dẫn thanh toán và hành vi lừa đảo. Người mua cần bảo vệ thông tin cá nhân, không cung cấp mật khẩu, mã OTP hoặc dữ liệu tài chính nhạy cảm cho các đối tượng không được xác thực; ưu tiên sử dụng các phương thức thanh toán an toàn, lưu giữ chứng từ giao dịch và chủ động phản ánh, khiếu nại khi quyền lợi bị xâm phạm. Đồng thời, khuyến khích thói quen tiêu dùng có trách nhiệm, lựa chọn sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, thân thiện môi trường, hạn chế mua sắm theo tâm lý đám đông hoặc các chương trình quảng cáo thiếu căn cứ.

Thứ tám, xây dựng niềm tin và trách nhiệm trong hệ sinh thái thương mại số. Niềm tin của người tiêu dùng là nền tảng quyết định sự phát triển lâu dài của TMĐT. Vì vậy, cần hình thành môi trường kinh doanh trực tuyến minh bạch, công bằng, trong đó mỗi chủ thể thực hiện đầy đủ trách nhiệm của mình. Doanh nghiệp và người bán phải lấy chất lượng sản phẩm, tính trung thực trong quảng cáo, chính sách hậu mãi và trách nhiệm với khách hàng làm cơ sở phát triển thương hiệu. Các nền tảng TMĐT cần tăng cường xác thực thông tin người bán, công khai chính sách giao dịch, xây dựng cơ chế đánh giá, phản hồi và giải quyết khiếu nại hiệu quả. Cơ quan quản lý nhà nước cần nghiên cứu, hoàn thiện cơ chế đánh giá mức độ tuân thủ, công khai thông tin vi phạm và cảnh báo rủi ro để người tiêu dùng có cơ sở lựa chọn. Đồng thời, phát huy vai trò giám sát của các tổ chức xã hội, hiệp hội ngành nghề và cộng đồng người tiêu dùng, góp phần xây dựng văn hóa kinh doanh số trung thực, có trách nhiệm.

Phát triển TMĐT an toàn và bền vững không chỉ phụ thuộc vào tốc độ tăng trưởng thị trường hay mức độ ứng dụng công nghệ, mà còn đòi hỏi sự đồng bộ giữa thể chế, hạ tầng, năng lực sản xuất, chất lượng hàng hóa và trách nhiệm của các chủ thể tham gia. Khi công nghệ được khai thác hiệu quả, quyền lợi người tiêu dùng được bảo vệ và niềm tin thị trường được củng cố, TMĐT sẽ có điều kiện phát huy vai trò là động lực quan trọng thúc đẩy chuyển đổi số, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát triển kinh tế Việt Nam theo hướng hiện đại, bao trùm và bền vững.

Mở chuyên mục đấu tranh chống hàng giả, hàng kém chất lượng và lừa đảo trực tuyến
Việc xây dựng các chuyên mục, kênh thông tin và tiếp nhận phản ánh chuyên biệt về hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng và lừa đảo trực tuyến là giải pháp quan trọng nhằm tăng cường giám sát xã hội, kịp thời phát hiện, cảnh báo và hỗ trợ xử lý các hành vi vi phạm trong thương mại điện tử (TMĐT). Đây cũng là cầu nối giữa người tiêu dùng, doanh nghiệp, cơ quan báo chí và cơ quan quản lý nhà nước, góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên, củng cố niềm tin và xây dựng môi trường kinh doanh trực tuyến minh bạch, lành mạnh.

Thứ nhất, xây dựng chuyên mục và hệ thống tiếp nhận phản ánh đa nền tảng. Các cơ quan báo chí, truyền thông cần chủ động mở chuyên mục chuyên sâu về đấu tranh chống hàng giả, hàng kém chất lượng và lừa đảo trên môi trường số; thường xuyên đăng tải thông tin cảnh báo, phản ánh các hành vi vi phạm, giới thiệu mô hình kinh doanh có trách nhiệm và hướng dẫn người tiêu dùng nhận diện rủi ro. Đồng thời, cần tăng cường kết nối với các kênh tiếp nhận phản ánh của cơ quan chức năng thông qua đường dây nóng, cổng thông tin điện tử, ứng dụng di động và mạng xã hội chính thức. Các kênh này cần có giao diện thuận tiện, cho phép người dân cung cấp hình ảnh, video, chứng từ giao dịch và những thông tin liên quan để phục vụ công tác xác minh. Đối với các sàn TMĐT, cần bố trí chức năng báo cáo vi phạm dễ nhận biết ngay trên giao diện sản phẩm, công khai quy trình tiếp nhận và thời hạn phản hồi, tạo điều kiện để người tiêu dùng chủ động tham gia giám sát thị trường.

Thứ hai, tăng cường phối hợp liên ngành trong tiếp nhận, xác minh và xử lý vi phạm. Cần xây dựng cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý thị trường, công an, cơ quan quản lý TMĐT, tài chính, ngân hàng, các nền tảng số và cơ quan báo chí trong việc trao đổi thông tin, xác minh và xử lý các hành vi vi phạm. Quy trình tiếp nhận phản ánh cần được chuẩn hóa, xác định rõ trách nhiệm của từng đơn vị, bảo đảm thông tin được phân loại, chuyển đến đúng cơ quan có thẩm quyền và xử lý kịp thời. Các sàn TMĐT có trách nhiệm phối hợp cung cấp thông tin theo quy định pháp luật, chủ động rà soát, ngăn chặn và xử lý sản phẩm, tài khoản có dấu hiệu vi phạm. Đối với các hành vi gian lận, lừa đảo xuyên biên giới, cần tăng cường hợp tác quốc tế, trao đổi dữ liệu và phối hợp với các nền tảng hoạt động tại Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả phát hiện, ngăn chặn và xử lý.

Thứ ba, công khai thông tin vi phạm và tăng cường cảnh báo cộng đồng. Cơ quan chức năng cần đẩy mạnh công khai thông tin về các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm đã được xác minh, xử lý theo quy định; đồng thời thường xuyên cập nhật cảnh báo về phương thức, thủ đoạn lừa đảo mới, sản phẩm giả mạo thương hiệu và các hình thức gian lận phổ biến trên môi trường trực tuyến. Nghiên cứu xây dựng cơ chế đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật, chất lượng dịch vụ và trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng của các nền tảng, người bán trên cơ sở tiêu chí khách quan, minh bạch. Song song với việc cảnh báo vi phạm, cần giới thiệu, quảng bá các doanh nghiệp, sản phẩm có chứng nhận chất lượng, nguồn gốc rõ ràng và thực hiện tốt trách nhiệm với khách hàng. Các cơ quan báo chí có vai trò quan trọng trong kiểm chứng, phổ biến thông tin chính xác, tránh gây hoang mang hoặc ảnh hưởng đến uy tín của tổ chức, cá nhân khi chưa có kết luận của cơ quan có thẩm quyền.

Thứ tư, khuyến khích và bảo vệ người cung cấp thông tin, tố giác vi phạm. Cần tạo điều kiện thuận lợi để người tiêu dùng, doanh nghiệp và cộng đồng chủ động phản ánh, cung cấp thông tin về hành vi sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng và lừa đảo trực tuyến. Thông tin cá nhân của người phản ánh, tố giác phải được bảo vệ theo quy định pháp luật, có biện pháp ngăn ngừa hành vi đe dọa, trả đũa hoặc lợi dụng việc tố giác để gây tổn hại cho người khác. Đồng thời, nghiên cứu áp dụng cơ chế biểu dương, khen thưởng phù hợp đối với các cá nhân, tổ chức cung cấp thông tin có giá trị, góp phần phát hiện và xử lý vi phạm. Việc tiếp nhận, xác minh thông tin cần bảo đảm khách quan, đúng quy trình, phân biệt rõ phản ánh của người tiêu dùng với tố cáo, tố giác hành vi vi phạm theo quy định pháp luật.

Thứ năm, đẩy mạnh truyền thông, giáo dục và nâng cao nhận thức cộng đồng. Các cơ quan báo chí, tổ chức xã hội, hiệp hội ngành nghề và cơ quan quản lý cần phối hợp triển khai những chương trình truyền thông thường xuyên về phòng, chống hàng giả, hàng kém chất lượng và lừa đảo trực tuyến. Chú trọng xây dựng các chuyên đề hướng dẫn nhận diện sản phẩm giả mạo, kiểm tra nguồn gốc hàng hóa, xác thực thông tin người bán, bảo vệ dữ liệu cá nhân và xử lý khi phát sinh tranh chấp. Các chiến dịch truyền thông như “Nói không với hàng giả”, “Tiêu dùng thông thái – Đẩy lùi lừa đảo” cần được triển khai phù hợp với từng nhóm đối tượng, kết hợp báo chí truyền thống, nền tảng số và mạng xã hội để mở rộng phạm vi tiếp cận. Đồng thời, tăng cường lồng ghép kiến thức về tiêu dùng an toàn, kỹ năng số và phòng tránh lừa đảo vào hoạt động giáo dục, đào tạo nghề, tập huấn cộng đồng, đặc biệt đối với người cao tuổi, người dân nông thôn và các nhóm còn hạn chế về kỹ năng công nghệ.

 Thứ sáu, ứng dụng công nghệ trong phát hiện, xác minh và ngăn chặn vi phạm. Cần đẩy mạnh ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn và các công nghệ phân tích thông minh để giám sát hoạt động kinh doanh trực tuyến, phát hiện dấu hiệu bất thường trong quảng cáo, giao dịch và phân phối hàng hóa. Các nền tảng TMĐT cần tăng cường công cụ tự động rà soát sản phẩm có nguy cơ vi phạm, nhận diện tài khoản giả mạo và hỗ trợ cảnh báo sớm cho người tiêu dùng. Khuyến khích ứng dụng mã QR, công nghệ truy xuất nguồn gốc, blockchain và các giải pháp xác thực điện tử phù hợp nhằm nâng cao khả năng kiểm chứng thông tin sản phẩm, hạn chế gian lận thương mại. Đồng thời, tăng cường xác thực danh tính người bán theo quy định, kết hợp kiểm tra thông tin đăng ký kinh doanh và giám sát hoạt động giao dịch để hạn chế tài khoản ảo, nâng cao trách nhiệm của các chủ thể tham gia thị trường.

Việc phát triển các chuyên mục đấu tranh chống hàng giả, hàng kém chất lượng và lừa đảo trực tuyến cần được thực hiện thường xuyên, có sự phối hợp giữa báo chí, cơ quan quản lý, doanh nghiệp và cộng đồng người tiêu dùng. Không chỉ dừng lại ở việc phát hiện, phản ánh vi phạm, các chuyên mục này còn phải phát huy vai trò tuyên truyền, cảnh báo, định hướng tiêu dùng và giám sát xã hội. Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật, bảo vệ doanh nghiệp kinh doanh chân chính, củng cố niềm tin của người tiêu dùng và thúc đẩy TMĐT phát triển an toàn, minh bạch, bền vững.

 Trách nhiệm của các bên trong phát triển thương mại điện tử
Để thương mại điện tử (TMĐT) phát triển an toàn, minh bạch và bền vững, cần xác định rõ vai trò, trách nhiệm của ba chủ thể chính trong chuỗi cung ứng hàng hóa: cơ sở sản xuất, doanh nghiệp phân phối và người tiêu dùng. Mỗi chủ thể đảm nhận những chức năng riêng, đồng thời có trách nhiệm phối hợp, giám sát và hỗ trợ lẫn nhau nhằm bảo đảm chất lượng sản phẩm, quyền lợi người tiêu dùng và sự vận hành lành mạnh của thị trường.

Cơ sở sản xuất – Bảo đảm chất lượng và nguồn gốc hàng hóa
Cơ sở sản xuất là chủ thể trực tiếp tạo ra sản phẩm, chịu trách nhiệm về chất lượng, độ an toàn, nguồn gốc, xuất xứ và việc tuân thủ các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trước khi đưa hàng hóa ra thị trường. Đây là mắt xích đầu tiên, giữ vai trò nền tảng trong việc xây dựng niềm tin và phát triển chuỗi cung ứng TMĐT bền vững.

Trước hết, bảo đảm chất lượng và an toàn sản phẩm. Các cơ sở sản xuất cần tuân thủ quy định pháp luật, áp dụng những tiêu chuẩn phù hợp với từng ngành hàng như VietGAP, GlobalGAP, HACCP, ISO; kiểm soát chặt chẽ nguyên liệu, vật tư đầu vào và quy trình sản xuất. Đặc biệt, đối với nông sản, thực phẩm, phải bảo đảm các giới hạn an toàn về dư lượng hóa chất, không sử dụng chất cấm, đáp ứng yêu cầu vệ sinh, an toàn thực phẩm và chất lượng sản phẩm theo quy định.

Thứ hai, minh bạch thông tin và truy xuất nguồn gốc. Cơ sở sản xuất cần xây dựng hệ thống quản lý, lưu trữ thông tin về nguyên liệu, quy trình sản xuất, thời gian thu hoạch, chế biến, đóng gói và các chứng nhận chất lượng liên quan. Khuyến khích ứng dụng mã QR, công nghệ truy xuất nguồn gốc và các nền tảng quản lý dữ liệu để người tiêu dùng, doanh nghiệp phân phối có thể kiểm tra, xác thực thông tin sản phẩm. Việc công khai nguồn gốc, xuất xứ, thành phần, hạn sử dụng và các thông tin cần thiết phải bảo đảm chính xác, trung thực, góp phần ngăn ngừa hàng giả, hàng nhái và gian lận thương mại.

Thứ ba, bảo đảm năng lực cung ứng và điều kiện bảo quản hàng hóa. Các cơ sở sản xuất cần chủ động xây dựng kế hoạch sản xuất phù hợp với nhu cầu thị trường, duy trì nguồn cung ổn định và bảo đảm chất lượng đồng đều giữa các lô hàng. Đồng thời, chú trọng đầu tư công nghệ sơ chế, bảo quản, đóng gói và thiết kế bao bì phù hợp với đặc tính sản phẩm, điều kiện vận chuyển đường dài và yêu cầu phân phối qua các kênh TMĐT. Ưu tiên sử dụng vật liệu đóng gói thân thiện môi trường, hạn chế hư hỏng, hao hụt trong quá trình lưu thông.

Thứ tư, tuân thủ pháp luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ kinh doanh. Các cơ sở sản xuất phải thực hiện quy định về đăng ký kinh doanh, điều kiện sản xuất, công bố chất lượng sản phẩm, ghi nhãn hàng hóa, sở hữu trí tuệ và nghĩa vụ thuế theo quy định. Tuyệt đối không sản xuất, kinh doanh hàng giả, hàng nhái, hàng không rõ nguồn gốc hoặc cung cấp thông tin sai lệch về chất lượng, công dụng sản phẩm. Đồng thời, chủ động phối hợp với doanh nghiệp phân phối, nền tảng TMĐT và cơ quan chức năng trong việc kiểm tra, xác minh nguồn gốc, chất lượng hàng hóa khi có yêu cầu.

 Thứ năm, thúc đẩy sản xuất xanh và trách nhiệm với môi trường. Cơ sở sản xuất cần từng bước áp dụng quy trình sản xuất sạch, tiết kiệm tài nguyên, sử dụng hiệu quả năng lượng, nước và nguyên liệu đầu vào. Chú trọng thu gom, phân loại, xử lý chất thải đúng quy định; khuyến khích tận dụng phụ phẩm, sản xuất phân hữu cơ, ứng dụng chế phẩm sinh học phù hợp và giảm sử dụng bao bì nhựa dùng một lần. Việc gắn sản xuất với bảo vệ môi trường không chỉ đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững mà còn góp phần nâng cao giá trị sản phẩm, khả năng cạnh tranh và uy tín thương hiệu trên thị trường.

 Thứ sáu, chủ động thu hồi và chịu trách nhiệm đối với sản phẩm không bảo đảm chất lượng. Khi phát hiện sản phẩm có lỗi, không đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng hoặc tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe, an toàn người tiêu dùng, cơ sở sản xuất phải kịp thời thông báo, phối hợp với đơn vị phân phối, nền tảng TMĐT và cơ quan chức năng để kiểm tra, thu hồi, xử lý theo quy định. Đồng thời, xác định nguyên nhân, khắc phục sai sót trong quy trình sản xuất và thực hiện trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi có căn cứ pháp lý. Việc chủ động xử lý sản phẩm lỗi, không né tránh hoặc đùn đẩy trách nhiệm là yêu cầu quan trọng để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và duy trì uy tín của cơ sở sản xuất.

Như vậy, trách nhiệm của cơ sở sản xuất không chỉ dừng lại ở việc tạo ra hàng hóa mà còn bao gồm bảo đảm chất lượng, minh bạch nguồn gốc, duy trì năng lực cung ứng, tuân thủ pháp luật và bảo vệ môi trường. Đây là nền tảng để hình thành chuỗi cung ứng đáng tin cậy, tạo điều kiện cho doanh nghiệp phân phối phát triển thị trường và góp phần xây dựng hệ sinh thái TMĐT an toàn, bền vững.

 Doanh nghiệp và cơ sở bán hàng – Bảo đảm chất lượng phân phối và minh bạch giao dịch
Doanh nghiệp phân phối, cửa hàng và các chủ thể kinh doanh trên nền tảng thương mại điện tử (TMĐT) giữ vai trò kết nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, chịu trách nhiệm về nguồn hàng kinh doanh, tính minh bạch của giao dịch, chất lượng dịch vụ và quyền lợi khách hàng. Đây là mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng, góp phần đưa sản phẩm có chất lượng, nguồn gốc rõ ràng đến thị trường, đồng thời xây dựng niềm tin trong hoạt động mua bán trực tuyến.

Trước hết, kiểm soát chặt chẽ nguồn hàng đầu vào. Doanh nghiệp và cơ sở bán hàng cần lựa chọn nhà cung cấp uy tín, kiểm tra nguồn gốc, xuất xứ, nhãn hàng hóa, hồ sơ chất lượng và các chứng nhận liên quan theo quy định đối với từng loại sản phẩm. Không kinh doanh, tiếp tay tiêu thụ hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng hoặc sản phẩm không đáp ứng điều kiện lưu thông trên thị trường. Đồng thời, thiết lập cơ chế kiểm soát chất lượng hàng hóa trong quá trình tiếp nhận, lưu kho và phân phối; chủ động phối hợp với nhà sản xuất xử lý, thu hồi sản phẩm có dấu hiệu vi phạm hoặc không bảo đảm chất lượng.

Thứ hai, đổi mới tư duy kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh. Doanh nghiệp cần chuyển từ phương thức bán hàng đơn thuần sang xây dựng năng lực kinh doanh số bền vững, lấy chất lượng sản phẩm và sự hài lòng của khách hàng làm trung tâm. Chú trọng phát triển thương hiệu, đa dạng hóa kênh phân phối thông qua sàn TMĐT, website, mạng xã hội và các điểm bán trực tiếp nhằm mở rộng thị trường, giảm sự phụ thuộc vào một nền tảng hoặc thuật toán. Đồng thời, tăng cường ứng dụng công nghệ trong quản lý hàng hóa, đơn hàng, dữ liệu khách hàng và hoạt động tiếp thị để nâng cao hiệu quả vận hành, chủ động thích ứng với sự thay đổi của thị trường.

Thứ ba, bảo đảm minh bạch thông tin và trách nhiệm trong giao dịch. Doanh nghiệp và cơ sở bán hàng phải cung cấp đầy đủ, chính xác thông tin về sản phẩm, giá bán, nguồn gốc, xuất xứ, chất lượng, điều kiện giao hàng, bảo hành và chính sách đổi trả. Đối với sản phẩm có mã QR hoặc hệ thống truy xuất nguồn gốc, cần công khai thông tin do nhà sản xuất cung cấp để người tiêu dùng thuận tiện kiểm tra, xác thực. Việc quảng cáo, giới thiệu sản phẩm phải trung thực, không phóng đại công dụng hoặc gây hiểu lầm. Đồng thời, thực hiện đúng cam kết về số lượng, chất lượng, thời gian giao hàng; thiết lập cơ chế tiếp nhận, giải quyết khiếu nại và bảo vệ quyền lợi chính đáng của khách hàng.

Thứ tư, nâng cao năng lực số và chất lượng phục vụ khách hàng. Các doanh nghiệp, cơ sở bán hàng cần thường xuyên đào tạo, bồi dưỡng nhân sự về kỹ năng kinh doanh trực tuyến, marketing số, quản lý đơn hàng, chăm sóc khách hàng và xử lý khủng hoảng truyền thông. Khuyến khích ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), phần mềm quản trị và các công cụ phân tích dữ liệu để nâng cao chất lượng dịch vụ, dự báo nhu cầu và tối ưu hoạt động phân phối. Việc ứng dụng công nghệ cần gắn với bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo đảm an toàn thông tin và xây dựng mối quan hệ lâu dài với khách hàng.

Thứ năm, chủ động hướng dẫn và bảo vệ người tiêu dùng. Bên cạnh hoạt động bán hàng, doanh nghiệp và cơ sở phân phối cần tích cực cung cấp thông tin, hướng dẫn khách hàng kiểm tra nguồn gốc sản phẩm, nhận diện hàng giả, hàng nhái và các thủ đoạn lừa đảo trực tuyến. Kịp thời cảnh báo những hành vi giả mạo thương hiệu, tài khoản bán hàng, website hoặc thông tin thanh toán nhằm chiếm đoạt tài sản. Đồng thời, công khai các kênh liên hệ chính thức, hướng dẫn người mua lưu giữ chứng từ giao dịch, thực hiện quyền khiếu nại và phối hợp với cơ quan chức năng khi phát hiện dấu hiệu gian lận thương mại.

Thứ sáu, tuân thủ pháp luật và thực hiện trách nhiệm kinh doanh. Doanh nghiệp và cơ sở bán hàng phải chấp hành đầy đủ các quy định về đăng ký kinh doanh, nghĩa vụ thuế, hoạt động TMĐT, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và các điều kiện kinh doanh có liên quan. Chủ động phối hợp với cơ quan quản lý, nhà sản xuất và nền tảng TMĐT trong việc cung cấp thông tin, kiểm tra, xác minh và xử lý vi phạm. Đồng thời, xây dựng văn hóa kinh doanh trung thực, cạnh tranh lành mạnh, không lợi dụng môi trường số để gian lận thương mại, quảng cáo sai sự thật hoặc xâm phạm quyền lợi của khách hàng.

Như vậy, trách nhiệm của doanh nghiệp và cơ sở bán hàng không chỉ là đưa sản phẩm từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng mà còn phải bảo đảm tính minh bạch, an toàn và chất lượng trong toàn bộ quá trình phân phối. Việc kiểm soát nguồn hàng, thực hiện đúng cam kết, nâng cao chất lượng dịch vụ và tuân thủ pháp luật là những yếu tố then chốt để xây dựng uy tín, bảo vệ người tiêu dùng và góp phần phát triển hệ sinh thái TMĐT lành mạnh, bền vững.

Khách hàng – Chủ động tiêu dùng thông thái và bảo vệ quyền lợi chính đáng
Người tiêu dùng là chủ thể cuối cùng trong chuỗi cung ứng hàng hóa, giữ vai trò quyết định thông qua việc lựa chọn, sử dụng sản phẩm và phản hồi chất lượng hàng hóa, dịch vụ trên thị trường. Trong môi trường thương mại điện tử (TMĐT), bên cạnh quyền được cung cấp thông tin trung thực, sử dụng sản phẩm an toàn và được bảo vệ quyền lợi hợp pháp, người tiêu dùng cần chủ động nâng cao kiến thức, kỹ năng số, hình thành thói quen mua sắm có trách nhiệm và tích cực tham gia giám sát hoạt động kinh doanh trực tuyến.

Trước hết, nâng cao kỹ năng số và khả năng nhận diện rủi ro. Người tiêu dùng cần trang bị kiến thức cơ bản về mua sắm trực tuyến, biết cách kiểm tra thông tin người bán, phân biệt sản phẩm chính hãng với hàng giả, hàng nhái và nhận diện những dấu hiệu bất thường trong giao dịch. Đặc biệt, cần cảnh giác với các thủ đoạn giả mạo ngân hàng, sàn TMĐT, đơn vị vận chuyển, tài khoản mạng xã hội hoặc đường dẫn thanh toán nhằm đánh cắp thông tin và chiếm đoạt tài sản. Việc chủ động cập nhật thông tin cảnh báo từ cơ quan chức năng và các nguồn tin đáng tin cậy sẽ giúp người mua hạn chế rủi ro trong quá trình giao dịch.

Thứ hai, bảo vệ dữ liệu cá nhân và bảo đảm an toàn thanh toán. Người tiêu dùng cần thận trọng khi cung cấp họ tên, địa chỉ, số điện thoại, thông tin tài khoản và các dữ liệu cá nhân trên môi trường số. Không tiết lộ mật khẩu, mã OTP, mã xác thực hoặc thông tin tài chính nhạy cảm cho người khác qua điện thoại, tin nhắn hay các đường dẫn không được xác thực. Đồng thời, ưu tiên sử dụng nền tảng giao dịch uy tín, phương thức thanh toán an toàn, kích hoạt các tính năng bảo mật và thường xuyên kiểm tra lịch sử giao dịch để kịp thời phát hiện dấu hiệu bất thường. Bảo vệ thông tin cá nhân không chỉ giúp phòng ngừa lừa đảo mà còn góp phần hình thành thói quen sử dụng dịch vụ số an toàn, có trách nhiệm.

Thứ ba, thực hiện tiêu dùng thông thái và có trách nhiệm. Trước khi quyết định mua hàng, người tiêu dùng cần tìm hiểu kỹ nguồn gốc, xuất xứ, chất lượng, giá bán, chính sách bảo hành, đổi trả và những đánh giá từ khách hàng đã sử dụng sản phẩm. Không nên chỉ dựa vào quảng cáo, mức giảm giá hoặc lời giới thiệu của người có ảnh hưởng trên mạng xã hội để đưa ra quyết định mua sắm. Bên cạnh đó, cần ưu tiên lựa chọn sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, đáp ứng tiêu chuẩn chất lượng, thân thiện môi trường; hạn chế tiêu dùng lãng phí và mua sắm theo tâm lý đám đông. Những lựa chọn có trách nhiệm của người tiêu dùng sẽ góp phần định hướng thị trường, khuyến khích doanh nghiệp nâng cao chất lượng và phát triển sản xuất, kinh doanh bền vững.

Thứ tư, chủ động phản ánh, khiếu nại và tham gia giám sát thị trường. Người tiêu dùng cần lưu giữ hóa đơn, chứng từ thanh toán, thông tin đơn hàng, nội dung trao đổi với người bán và các bằng chứng liên quan để bảo vệ quyền lợi khi phát sinh tranh chấp. Khi phát hiện sản phẩm không đúng mô tả, hàng giả, hàng kém chất lượng hoặc dấu hiệu gian lận, cần kịp thời phản ánh đến người bán, nền tảng TMĐT hoặc cơ quan có thẩm quyền để được xem xét, giải quyết. Đồng thời, tích cực cung cấp đánh giá khách quan, trung thực về chất lượng sản phẩm và dịch vụ, góp phần cảnh báo cộng đồng, hỗ trợ phát hiện vi phạm và xây dựng môi trường mua sắm trực tuyến minh bạch, lành mạnh.

Như vậy, người tiêu dùng không chỉ là đối tượng được bảo vệ mà còn là chủ thể tích cực tham gia xây dựng thị trường TMĐT an toàn và bền vững. Việc nâng cao kỹ năng số, chủ động bảo vệ thông tin cá nhân, lựa chọn sản phẩm có trách nhiệm và thực hiện quyền phản ánh, khiếu nại sẽ góp phần hạn chế gian lận thương mại, thúc đẩy cạnh tranh lành mạnh và củng cố niềm tin trên thị trường số.

Phát huy vai trò của các hiệp hội ngành nghề và tổ chức xã hội
Bên cạnh trách nhiệm của cơ sở sản xuất, doanh nghiệp phân phối và người tiêu dùng, các hiệp hội ngành nghề và tổ chức xã hội giữ vai trò quan trọng trong kết nối, hỗ trợ và giám sát hoạt động TMĐT. Các tổ chức như Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam (VECOM), hiệp hội doanh nghiệp, hội bảo vệ người tiêu dùng và các tổ chức xã hội có liên quan cần tăng cường phối hợp với cơ quan quản lý nhà nước trong tuyên truyền, phổ biến pháp luật, xây dựng bộ quy tắc ứng xử, thúc đẩy tiêu chuẩn kinh doanh và nâng cao năng lực số cho các chủ thể tham gia thị trường.

Đồng thời, cần phát huy vai trò của các hiệp hội trong tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu, nâng cao chất lượng sản phẩm và tiếp cận thị trường trực tuyến. Các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng cần tích cực tham gia tiếp nhận phản ánh, tư vấn, hỗ trợ giải quyết tranh chấp theo chức năng, đồng thời tổ chức các chương trình truyền thông, hướng dẫn kỹ năng nhận diện hàng giả, phòng tránh lừa đảo và tiêu dùng an toàn. Thông qua hoạt động kết nối và giám sát xã hội, các tổ chức này góp phần thúc đẩy trách nhiệm kinh doanh, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của các bên và xây dựng văn hóa thương mại số minh bạch, có trách nhiệm.

Nâng cao trách nhiệm của các nền tảng thương mại điện tử
Các sàn TMĐT và nền tảng số giữ vai trò trung gian kết nối người bán với người mua, đồng thời có ảnh hưởng lớn đến khả năng tiếp cận thị trường, hoạt động giao dịch và quyền lợi của các chủ thể tham gia. Vì vậy, trách nhiệm của nền tảng không chỉ dừng lại ở việc cung cấp hạ tầng công nghệ mà còn phải gắn với yêu cầu kiểm soát hoạt động kinh doanh, bảo đảm an toàn giao dịch và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.

Trước hết, tăng cường xác thực và quản lý người bán. Các nền tảng cần thực hiện nghiêm quy định về đăng ký, xác thực thông tin người bán; kiểm tra, giám sát việc cung cấp thông tin sản phẩm, nguồn gốc hàng hóa và điều kiện kinh doanh đối với những ngành hàng có yêu cầu đặc thù. Chủ động ứng dụng công nghệ để phát hiện, ngăn chặn hàng giả, hàng nhái, quảng cáo sai sự thật và các tài khoản có dấu hiệu gian lận; kịp thời xử lý sản phẩm, gian hàng vi phạm theo quy định.

Thứ hai, minh bạch chính sách vận hành và bảo đảm cạnh tranh công bằng. Các nền tảng cần công khai rõ ràng chính sách phí, điều kiện tham gia, quy định quảng cáo, cơ chế xử lý vi phạm và những nguyên tắc cơ bản ảnh hưởng đến việc tìm kiếm, đề xuất, hiển thị sản phẩm. Việc thay đổi chính sách cần được thông báo phù hợp, tạo điều kiện để người bán chủ động điều chỉnh hoạt động kinh doanh. Đồng thời, hạn chế các hành vi lạm dụng vị thế thị trường, phân biệt đối xử thiếu căn cứ hoặc áp đặt điều kiện bất lợi đối với doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh.

Thứ ba, nâng cao trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng và giải quyết tranh chấp. Các sàn TMĐT cần thiết lập cơ chế tiếp nhận phản ánh, khiếu nại thuận tiện, công khai quy trình và thời hạn xử lý; tăng cường phối hợp với người bán trong việc đổi trả, hoàn tiền và giải quyết tranh chấp. Đồng thời, có biện pháp bảo vệ dữ liệu cá nhân, bảo đảm an toàn thanh toán, cảnh báo các hành vi gian lận và hỗ trợ người tiêu dùng khi phát sinh rủi ro. Đặc biệt, cần xác định rõ trách nhiệm pháp lý của nền tảng trong từng trường hợp vi phạm, phù hợp với vai trò, mức độ tham gia và nghĩa vụ được pháp luật quy định; không để việc cung cấp dịch vụ trung gian trở thành lý do né tránh trách nhiệm.

Thứ tư, chủ động phối hợp với cơ quan quản lý và cộng đồng. Các nền tảng cần thực hiện đầy đủ nghĩa vụ cung cấp thông tin theo quy định, phối hợp với cơ quan chức năng trong kiểm tra, xác minh và xử lý các hành vi gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng và lừa đảo trực tuyến. Đồng thời, tích cực tham gia các chương trình tuyên truyền, phổ biến kiến thức tiêu dùng an toàn, hỗ trợ doanh nghiệp kinh doanh chân chính và thúc đẩy các mô hình TMĐT xanh, có trách nhiệm.

Có thể khẳng định, sự phát triển an toàn và bền vững của TMĐT đòi hỏi trách nhiệm xuyên suốt từ khâu sản xuất, phân phối đến tiêu dùng, cùng với vai trò hỗ trợ, giám sát của các hiệp hội, tổ chức xã hội và trách nhiệm quản trị của các nền tảng số. Khi mỗi chủ thể thực hiện đúng chức năng, nghĩa vụ và chủ động phối hợp, thị trường TMĐT sẽ có nền tảng vững chắc để phát triển minh bạch, công bằng, nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo vệ hiệu quả quyền lợi người tiêu dùng.

Thương mại điện tử (TMĐT) là một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế số, mở ra cơ hội lớn để doanh nghiệp mở rộng thị trường, tối ưu chi phí, đổi mới phương thức kinh doanh và đưa sản phẩm Việt Nam đến gần hơn với người tiêu dùng trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ là những rủi ro ngày càng phức tạp về an ninh mạng, gian lận thương mại, hàng giả, hàng kém chất lượng và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Vì vậy, sự phát triển của TMĐT không chỉ được đánh giá qua doanh thu hay quy mô giao dịch mà còn phải dựa trên mức độ an toàn, minh bạch, niềm tin thị trường và những giá trị thiết thực mang lại cho xã hội.

Để phát triển bền vững, doanh nghiệp cần chủ động ứng dụng công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, xây dựng thương hiệu và thực hiện trách nhiệm với khách hàng; người tiêu dùng phải nâng cao kỹ năng số, hình thành thói quen mua sắm thông thái và chủ động bảo vệ quyền lợi chính đáng. Đồng thời, Nhà nước cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả quản lý, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, cạnh tranh lành mạnh và bảo đảm quyền lợi của các chủ thể tham gia.

TMĐT chỉ thực sự trở thành động lực tăng trưởng bền vững khi công nghệ gắn liền với niềm tin, đổi mới sáng tạo đi đôi với trách nhiệm, phát triển thị trường song hành với bảo vệ người tiêu dùng và lợi ích chung của xã hội.

Trung tướng Ngô Quý Đức/Nguyên Cục trưởng, Cục Cứu hộ – Cứu nạn/BQP