ĐNA - Trong bối cảnh chuyển đổi số, xây dựng môi trường văn hóa số là yêu cầu khách quan nhằm phát huy vai trò của văn hóa đối với sự phát triển con người và xã hội. Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa, bài viết làm rõ khái niệm môi trường văn hóa số, phân tích bốn đặc trưng cơ bản và xác định bốn thành tố cấu thành, gồm hệ giá trị, hệ quan hệ, các hình thái hoạt động văn hóa và hệ thống thiết chế, nền tảng công nghệ số. Qua đó, nhấn mạnh yêu cầu lấy con người làm trung tâm, giá trị văn hóa làm nền tảng định hướng và công nghệ làm phương tiện xây dựng môi trường văn hóa số lành mạnh, nhân văn, bền vững.

Từ khóa: văn hóa số; môi trường văn hóa số; kỷ nguyên mới.

Đặt vấn đề

Sự phát triển bùng nổ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số toàn diện đang tạo ra một bước ngoặt mang tính dịch chuyển bản thể luận trong lịch sử tồn tại của xã hội loài người. Không gian số không còn đơn thuần là công cụ hay phương tiện kỹ thuật hỗ trợ, mà đã chuyển hóa thành không gian sinh tồn xã hội mới – môi trường sống thứ hai của con người. Trong môi trường đó, toàn bộ các quan hệ xã hội, phương thức sản xuất tinh thần, chuẩn mực ứng xử và phương thức tự nhận thức của chủ thể con người đang được tái cấu trúc một cách sâu sắc. Sự chuyển dịch từ môi trường thực sang môi trường số đặt ra yêu cầu khách quan phải hình thành và xây dựng một hình thái môi trường văn hóa mới – môi trường văn hóa số.

Vận dụng sáng tạo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về văn hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “văn hóa soi đường cho quốc dân đi” và yêu cầu đặt văn hóa ngang hàng với chính trị, kinh tế, xã hội. Khi công cụ và phương thức sinh hoạt chuyển sang môi trường kỹ thuật số, văn hóa phải tiếp tục giữ vai trò dẫn dắt, bồi dưỡng phẩm chất và định hướng giá trị nhân văn, là hệ điều tiết cho sự phát triển nhanh và bền vững của đất nước. Tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày 24/11/2021, cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh nhiệm vụ: “Xây dựng môi trường văn hóa số phù hợp với nền kinh tế số, xã hội số và công dân số, làm cho văn hóa thích nghi, điều tiết sự phát triển bền vững đất nước trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”(1). Nghị quyết số 80-NQ/TW của Đảng cũng tiếp tục chỉ rõ: “Xây dựng môi trường thông tin số lành mạnh, nâng cao ý thức pháp luật, trách nhiệm công dân trong không gian số; ban hành bộ quy tắc ứng xử trên không gian số; làm trong sạch môi trường văn hoá số”(2). Vì vậy, việc xây dựng môi trường văn hóa số là vấn đề cấp thiết, cơ sở nền tảng để văn hóa thích nghi và phát huy vai trò nguồn lực nội sinh, động lực to lớn, trụ cột phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Nội dung

Khái niệm môi trường văn hóa số

Trong di sản triết học mácxít, C.Mác và Ph.Ăngghen đặt văn hóa trên nền tảng của hoạt động lao động sáng tạo, khẳng định: “Văn hóa là thiên nhiên thứ hai do con người tạo ra, đồng thời, cũng là một phương thức hoạt động sống đặc thù của con người để tạo dựng cơ sở, nền tảng tinh thần cho sự tồn tại, phát triển xã hội “theo các quy luật của cái đẹp”(3). Mặc dù chịu sự quy định của phương thức sản xuất vật chất, văn hóa có tính độc lập tương đối và mang sức mạnh cải tạo xã hội to lớn, bởi “lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng”(4).

Trung thành và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đưa ra định nghĩa kinh điển: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”(5). Luận điểm này chỉ rõ văn hóa luôn gắn liền với phương thức sinh hoạt và sự phát triển của công cụ lao động. Khi công cụ lao động bước sang thời đại kỹ thuật số, văn hóa tất yếu hình thành nên những phương thức biểu hiện hoàn toàn mới.

Trên cơ sở đó, văn hóa về bản chất là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra trong quá trình hoạt động thực tiễn; còn môi trường văn hóa được hiểu là toàn bộ các giá trị, yếu tố xung quanh chủ thể, chứa đựng các quan hệ, hình thái hoạt động, thiết chế và cảnh quan văn hóa tác động trực tiếp đến con người. Khi các hoạt động văn hóa di chuyển và vận hành trên nền tảng công nghệ kỹ thuật số, văn hóa số xuất hiện như một bộ phận cấu thành của nền văn hóa dân tộc, phản ánh phương thức tồn tại mới của văn hóa. Văn hóa số là tổng thể các hoạt động sáng tạo, lưu giữ, truyền bá, tiếp nhận và thụ hưởng các giá trị văn hóa trên cơ sở ứng dụng công nghệ số, gắn liền với hệ thống chuẩn mực, quy tắc ứng xử, đạo đức và pháp luật được thực hành trong môi trường số.

Trên cơ sở tổng hòa quan niệm về môi trường văn hóa và văn hóa số, môi trường văn hóa số có thể hiểu là tổng thể các giá trị, yếu tố và điều kiện văn hóa tồn tại, vận hành trong không gian số, bao gồm hệ giá trị và quan hệ văn hóa số, các hình thái hoạt động văn hóa trên nền tảng số, hệ thống thiết chế và nền tảng công nghệ số, cùng các chuẩn mực đạo đức, pháp luật và quy tắc ứng xử trong môi trường số; những yếu tố đó tác động thường xuyên, trực tiếp hoặc gián tiếp đến nhận thức, thái độ, hành vi, lối sống và quá trình hình thành nhân cách của cá nhân, cộng đồng. Theo đó, môi trường văn hóa số không phải là một thực thể kỹ thuật tách rời hay một môi trường công nghệ thuần túy, mà là sự thống nhất biện chứng giữa công nghệ, con người và hệ giá trị. Hạ tầng và các nền tảng kỹ thuật số chỉ đóng vai trò là điều kiện vật chất, phương tiện vận hành; còn cái làm nên tính chất văn hóa của môi trường chính là hệ giá trị, các chuẩn mực đạo đức, pháp luật và quy tắc ứng xử được con người thực hành, hiện thực hóa trong không gian đó.

Như vậy, việc xây dựng môi trường văn hóa số thực chất là xây dựng mối quan hệ biện chứng thống nhất giữa con người – văn hóa – công nghệ. Trong đó, lấy con người làm trung tâm, nhằm bảo đảm cho mọi hoạt động sáng tạo, giao tiếp và thụ hưởng trên không gian mạng đều hướng tới các giá trị chân, thiện, mỹ, góp phần phát triển toàn diện nhân cách con người trong kỷ nguyên số.

Các đặc trưng cơ bản của môi trường văn hóa số

Sự chuyển biến từ môi trường văn hóa truyền thống sang môi trường văn hóa số không chỉ đơn thuần là việc mở rộng không gian hay thay đổi công cụ lưu trữ, truyền tải dữ liệu, mà là sự thay đổi sâu sắc về phương thức tồn tại và cơ chế vận hành của các giá trị văn hóa. Môi trường văn hóa số mang tính chất song đôi, vừa mở ra khả năng tiếp cận tri thức và sáng tạo giá trị mới, vừa tiềm ẩn những nguy cơ “ô nhiễm thông tin” và lệch chuẩn hành vi nếu thiếu sự định hướng giá trị. Dựa trên cơ sở đó, môi trường văn hóa số sở hữu bốn đặc trưng cơ bản mang tính hệ thống:

Thứ nhất, tính chính trị – tư tưởng sâu sắc. Môi trường văn hóa số không đơn thuần là một hạ tầng kỹ thuật hay không gian công nghệ trung tính, mà về bản chất là một địa bàn phức tạp của cuộc đấu tranh tư tưởng và lý luận. Mọi sản phẩm văn hóa, học liệu, thông tin, nhận định hay bình luận được đăng tải trên không gian mạng đều chứa đựng tính định hướng giá trị và có thể trở thành đối tượng tác động của các luồng tư tưởng khác nhau. Trong điều kiện bùng nổ thông tin xuyên biên giới và sự trỗi dậy của các phương tiện truyền thông mới, môi trường văn hóa số luôn đứng trước thách thức từ các luồng thông tin xấu, độc, tin giả và sự xâm nhập của các sản phẩm phản văn hóa. Do đó, chuẩn mực chính trị – tư tưởng không phải là một thuộc tính bên ngoài áp đặt vào, mà là thuộc tính cấu thành cốt lõi bảo đảm tính lành mạnh, sự ổn định và định hướng phát triển của môi trường văn hóa số.

Thứ hai, sự đan cài biện chứng giữa tính mở của công nghệ với tính kỷ luật và bảo mật. Về mặt kỹ thuật, công nghệ số vận hành theo logic kết nối toàn cầu, chia sẻ tự do, vô danh và mở rộng không giới hạn. Tuy nhiên, về mặt quản trị xã hội và an ninh quốc gia, môi trường văn hóa số lại đòi hỏi khắt khe tính tuân thủ pháp luật, kỷ cương xã hội, trách nhiệm công dân và an toàn, bảo mật thông tin. Sự tương tác giữa tính mở công nghệ và yêu cầu kỷ luật quản lý tạo ra một trạng thái đan cài biện chứng. Một môi trường văn hóa số tiến bộ không loại trừ tính mở hay cấm đoán công nghệ một cách máy móc, mà điều tiết tính mở đó bằng bộ quy tắc ứng xử văn hóa, hành lang pháp lý và ý thức trách nhiệm số của các chủ thể khi tham gia không gian mạng.

Thứ ba, tính sư phạm và chức năng định hướng giá trị nhân văn. Môi trường văn hóa số chứa đựng chức năng giáo dục, bồi dưỡng tri thức, định hướng nhân cách và nuôi dưỡng các giá trị chân – thiện – mỹ cho con người. Mọi yếu tố cấu thành không gian số – từ học liệu, kho dữ liệu, diễn đàn thảo luận đến các quy tắc tương tác trực tuyến – đều đóng vai trò là những công cụ giáo dục trực quan. Tính sư phạm đòi hỏi việc sáng tạo, phân phối và thụ hưởng các sản phẩm văn hóa trên không gian mạng phải hướng tới việc xây dựng con người phát triển toàn diện, nâng cao sức đề kháng văn hóa, giúp con người không bị tha hóa hay lệ thuộc vào máy móc và thế giới ảo.

Thứ tư, quan hệ lưỡng diện tương tác chặt chẽ giữa không gian thực và không gian số. Không gian thực và không gian số không tồn tại biệt lập hay loại trừ lẫn nhau, mà thẩm thấu, tác động qua lại sâu sắc. Uy tín, giá trị, chuẩn mực đạo đức và nếp sống được thiết lập trong đời sống thực chính là cơ sở nền tảng để chủ thể mang vào hiện thực hóa trong môi trường số. Ngược lại, những hành vi ứng xử, giao tiếp và hoạt động trên không gian mạng sẽ lập tức tác động trở lại thế giới thực, ảnh hưởng trực tiếp đến uy tín, nhân cách, các quan hệ xã hội và sự ổn định của tổ chức. Tính lưỡng diện này đòi hỏi con người phải giữ vững sự thống nhất nhân cách, tính gương mẫu và tinh thần thượng tôn pháp luật ở cả không gian thực lẫn không gian số.

Như vậy, bốn đặc trưng cơ bản nêu trên không tồn tại biệt lập mà gắn kết hữu cơ, phản ánh trọn vẹn bản chất biện chứng của môi trường văn hóa số trong thời đại mới. Sự thống nhất giữa tính chính trị – tư tưởng, tính kỷ luật – bảo mật, tính sư phạm nhân văn và quan hệ tương tác lưỡng diện thực – số khẳng định môi trường văn hóa số không phải là sản phẩm kỹ thuật thuần túy, mà là một không gian xã hội tự giác, nơi con người vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là đối tượng thụ hưởng và hoàn thiện nhân cách. Việc nhận diện đúng đắn và hệ thống các đặc trưng này chính là cơ sở lý luận then chốt để tiếp tục đi sâu phân tích cấu trúc các thành tố cấu thành nên môi trường văn hóa số.

Cấu trúc cơ bản của môi trường văn hóa số

Môi trường văn hóa số không phải là sự lắp ghép cơ học hay sự cộng gộp đơn thuần giữa công nghệ kỹ thuật và con người, mà là một thực thể xã hội – văn hóa phức hợp, phản ánh phương thức tồn tại mới của văn hóa trong kỷ nguyên số. Nếu các đặc trưng cơ bản của môi trường văn hóa số phản ánh các thuộc tính và quy luật vận động, thì cấu trúc của môi trường văn hóa số lại thể hiện mô hình tổ chức không gian xã hội, bảo đảm cho môi trường đó tồn tại, vận hành và thực hiện đầy đủ các chức năng xã hội. Kế thừa lý luận về cấu trúc môi trường văn hóa truyền thống, môi trường văn hóa số được hình thành từ sự chuyển hóa và tái cấu trúc bốn thành tố cơ bản: hệ giá trị văn hóa số, hệ quan hệ văn hóa số, các hình thái hoạt động văn hóa số, và hệ thống thiết chế cùng nền tảng công nghệ số.

Một là, hệ giá trị văn hóa số – hạt nhân định hướng ý thức của môi trường văn hóa số. Hệ giá trị là kết tinh của ý thức xã hội, đóng vai trò là thước đo, chuẩn mực và tiêu chí điều tiết nhận thức, hành vi của các chủ thể văn hóa. Trong môi trường số, hệ giá trị văn hóa số không phải được khởi tạo tự phát một cách phi nền tảng vật chất, mà là sự kế thừa, thăng hoa và chuyển hóa của các giá trị văn hóa dân tộc, hệ giá trị quốc gia và các chuẩn mực đạo đức nhân văn truyền thống sang hình thái biểu hiện mới. Hệ giá trị này bao hàm tính trung thực và sự liêm chính học thuật trong tạo lập, trích dẫn, khai thác dữ liệu tri thức; ý thức trách nhiệm chính trị và đạo đức xã hội khi phát ngôn, chia sẻ thông tin; tinh thần tôn trọng bản quyền và quyền sở hữu trí tuệ; tính kỷ luật trong bảo đảm an toàn, an ninh thông tin và bảo vệ chủ quyền số quốc gia; cùng tinh thần nhân văn, văn minh trong tương tác trực tuyến. Với tư cách là trụ cột tư tưởng và chuẩn mực điều tiết, hệ giá trị văn hóa số giữ vai trò hạt nhân định hướng, giúp chủ thể giữ vững bản lĩnh chính trị, ngăn ngừa sự tha hóa nhân cách và xói mòn đạo đức trước những hiện tượng ô nhiễm thông tin và lệch chuẩn trên không gian mạng.

Hai là, hệ quan hệ văn hóa số – phương diện xã hội và nhân văn của môi trường văn hóa số. Quan hệ văn hóa số là tổng thể các mối quan hệ xã hội, các hình thức giao tiếp, kết nối và hợp tác giữa các chủ thể con người (cá nhân với cá nhân, cá nhân với tập thể và cộng đồng) được xác lập, duy trì thông qua các phương tiện và nền tảng công nghệ số. Công nghệ số với tính chất kết nối đa chiều, tương tác thời gian thực và tính mở xuyên biên giới đã giải phóng con người khỏi một số rào cản về khoảng cách địa lý và thứ bậc hành chính truyền thống. Tuy nhiên, dưới tác động của tính vô danh và sự suy giảm các chế tài trực tiếp trên không gian mạng, các quan hệ xã hội rất dễ bị biến dạng, làm xuất hiện những hành vi ứng xử thiếu chuẩn mực hoặc xâm phạm danh dự, uy tín của chủ thể khác. Do đó, hệ quan hệ văn hóa số chuẩn mực phải được kiến tạo trên nền tảng bộ quy tắc ứng xử văn minh, tinh thần tôn trọng lẫn nhau, sự bình đẳng, dân chủ, kết hợp hài hòa giữa tính cởi mở của giao tiếp trực tuyến với tinh thần kỷ luật, thượng tôn pháp luật và trách nhiệm công dân của mỗi chủ thể khi tham gia không gian số.

Ba là, các hình thái hoạt động văn hóa số – phương diện vận động thực tiễn của môi trường văn hóa số. Hoạt động thực tiễn là phương thức tồn tại cơ bản của con người và là nguồn gốc hình thành, phát triển văn hóa. Hoạt động văn hóa số là toàn bộ các quá trình sáng tạo, sản xuất, lưu giữ, truyền bá, tiếp nhận và thụ hưởng các giá trị văn hóa, tri thức học thuật được thực hiện trên nền tảng công nghệ kỹ thuật số. Điểm khác biệt bản thể luận của hoạt động văn hóa số so với hoạt động văn hóa truyền thống là sự xóa nhòa ranh giới cố định giữa chủ thể sáng tạo và đối tượng thụ hưởng: mỗi cá nhân khi tham gia không gian mạng không chỉ thụ động tiếp nhận thông tin mà đồng thời là chủ thể trực tiếp sáng tạo, tái sản xuất và lan tỏa các nội dung số. Các hình thái hoạt động này vô cùng phong phú, từ việc thiết kế học liệu số, bài giảng điện tử, số hóa di sản văn hóa, tổ chức sinh hoạt học thuật trực tuyến đến các phương thức truyền thông số và sáng tạo nghệ thuật số. Chất lượng, tính chuẩn mực và hàm lượng khoa học – nhân văn của các hình thái hoạt động thực tiễn này quyết định trực tiếp đến mức độ phong phú và sức sống nội tại của môi trường văn hóa số.

Bốn là, hệ thống thiết chế và nền tảng công nghệ số – bệ đỡ hạ tầng vật chất – kỹ thuật và hành lang thể chế vận hành. Hệ thống này là sự thống nhất biện chứng giữa hai phương diện: phương diện kỹ thuật (bao gồm hạ tầng mạng truyền dẫn, các trung tâm dữ liệu, phần mềm quản lý, các nền tảng số dùng chung) và phương diện thể chế (bao gồm hệ thống pháp luật, quy chế, quy định, bộ quy tắc ứng xử và cơ chế quản trị xã hội). Nền tảng công nghệ chỉ cung cấp tiền đề vật chất và khả năng công cụ, còn hệ thống thiết chế pháp lý và quy chế vận hành do con người thiết lập mới đóng vai trò chuyển hóa tiềm năng công nghệ thành trật tự xã hội có kỷ cương, văn minh. Một hệ thống thiết chế số hoàn chỉnh phải bảo đảm tính liên thông, an toàn, bảo mật dữ liệu, đồng thời tạo hành lang pháp lý minh bạch để bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, quyền con người và kịp thời ngăn chặn, xử lý các hành vi vi phạm chuẩn mực văn hóa trên môi trường số.

Tóm lại, bốn thành tố cấu thành nêu trên không tồn tại rời rạc hay cơ học, mà gắn kết hữu cơ, tác động qua lại lẫn nhau trong một chỉnh thể biện chứng thống nhất: hệ giá trị giữ vai trò hạt nhân định hướng ý thức; hệ quan hệ là môi trường định hình và nuôi dưỡng hành vi xã hội; các hình thái hoạt động là phương thức hiện thực hóa giá trị trong thực tiễn; hệ thống thiết chế cùng nền tảng công nghệ đóng vai trò bệ đỡ hạ tầng vật chất và hành lang pháp lý. Sự vận động đồng bộ của bốn thành tố này khẳng định rằng, kiến tạo môi trường văn hóa số không thể phiến diện chỉ quy về đầu tư thiết bị công nghệ hay tuyên truyền quy tắc đơn thuần, mà phải là một chiến lược xây dựng toàn diện, lấy con người làm trung tâm, lấy giá trị nhân văn làm mục tiêu và lấy công nghệ làm phương tiện. Đây chính là luận cứ khoa học quan trọng để tiếp tục tổng kết thực tiễn và đề xuất các giải pháp chiến lược nhằm xây dựng môi trường văn hóa số an toàn, lành mạnh và phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới.

Kết luận

Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, môi trường văn hóa số trở thành không gian xã hội quan trọng, tác động trực tiếp đến quá trình hình thành nhận thức, định hướng giá trị, điều chỉnh hành vi và phát triển nhân cách con người. Sự phát triển của công nghệ không tự thân bảo đảm tiến bộ văn hóa; trái lại, những thành tựu công nghệ chỉ thực sự phát huy giá trị khi được định hướng bởi các chuẩn mực đạo đức, pháp luật và những giá trị nhân văn.

Do đó, xây dựng môi trường văn hóa số phải được đặt trong tổng thể sự nghiệp xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, gắn kết chặt chẽ giữa phát triển công nghệ với hoàn thiện thể chế, củng cố chuẩn mực ứng xử và nâng cao trách nhiệm của các chủ thể tham gia không gian mạng. Trọng tâm là phát huy những giá trị tích cực, chủ động ngăn ngừa các biểu hiện lệch chuẩn, đồng thời bảo đảm quyền sáng tạo, tiếp cận và thụ hưởng văn hóa của con người. Lấy con người làm trung tâm, lấy giá trị văn hóa làm nền tảng và lấy công nghệ làm phương tiện chính là định hướng căn bản để kiến tạo môi trường văn hóa số an toàn, lành mạnh, nhân văn, góp phần phát triển toàn diện con người và phát huy sức mạnh nội sinh của văn hóa trong kỷ nguyên số.

Vũ Thị Minh Tâm – Học viện Kỹ thuật quân sự

Chú thích tài liệu trích dẫn

  1. Nguyễn Phú Trọng (2022), Một số vấn đề lý luận và thực tiễn vể chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, Nxb. Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, tr.172.
  2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026), Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, ngày 07/01/2026, Hà Nội, tr.02.
  3. Mác và Ph.Ăngghen (1844), “Bản thảo kinh tế – triết học”, Toàn tập, tập 42, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.137.
  4. Mác và Ph.Ăngghen (1843), “Góp phần phê phán triết học pháp quyền của Hê-ghen. Lời nói đầu”, Toàn tập, tập 1, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 1995, tr.580.
  5. Hồ Chí Minh (1943), “Nhật ký trong tù”, Toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, Hà Nội, 2011, tr.458.