Công khai bản án góp phần tăng tính minh bạch, khả năng giám sát và niềm tin đối với hoạt động tư pháp. Tuy nhiên, khi bản án được số hóa, lưu trữ lâu dài và dễ dàng tìm kiếm, những thông tin về đời tư, quan hệ gia đình, sức khỏe, tài sản hoặc hoàn cảnh cá nhân cũng có nguy cơ bị khai thác vượt quá mục đích tố tụng. Vấn đề đặt ra không còn chỉ là “có công khai hay không”, mà là công khai đến mức nào, thông tin nào phải được ẩn danh và cơ chế nào bảo đảm quyền tiếp cận công lý không trở thành nguồn phát tán dữ liệu cá nhân. Cân bằng giữa minh bạch tư pháp và bảo vệ thông tin cá nhân vì thế đang trở thành yêu cầu quan trọng đối với Tòa án trong thời đại dữ liệu.

Công khai bản án trong kỷ nguyên dữ liệu và sự chuyển dịch từ minh bạch tư pháp đến khả năng truy xuất cá nhân.
Việc đưa bản án, quyết định lên môi trường số đã mở rộng đáng kể khả năng tiếp cận hoạt động xét xử, giúp tăng cường giám sát xã hội và hỗ trợ áp dụng pháp luật thống nhất. Nhưng khi các phán quyết có thể được tìm kiếm, sao chép, liên kết và lưu giữ lâu dài, những dữ kiện gắn với đời sống cá nhân cũng dễ vượt khỏi phạm vi phục vụ tư pháp ban đầu. Sự thay đổi này khiến bài toán minh bạch không còn chỉ nằm ở quyền được biết, mà còn gắn với giới hạn truy xuất, nhận diện và tái sử dụng thông tin của những người có liên quan đến vụ án.

Một là, quy mô công khai bản án đã đạt mức rất lớn, đưa dữ liệu xét xử trở thành một nguồn thông tin số có khả năng khai thác rộng rãi. Theo số liệu hiển thị trên Cổng công bố bản án, quyết định của Tòa án, đến thời điểm dữ liệu được cập nhật tháng 3/2026, hệ thống đã công bố 1.982.873 bản án, quyết định. Trong đó có 393.327 vụ việc hình sự, 409.078 vụ việc dân sự, 970.747 vụ việc hôn nhân và gia đình, 35.982 vụ việc kinh doanh thương mại và 24.892 vụ việc hành chính. Riêng nhóm hôn nhân và gia đình chiếm gần một nửa tổng số tài liệu được công bố. Quy mô gần hai triệu văn bản cho thấy hoạt động công khai đã vượt xa ý nghĩa đơn thuần của việc đăng tải từng phán quyết riêng lẻ, hình thành một kho dữ liệu tư pháp có khả năng tra cứu và khai thác ở phạm vi rất rộng.

Hai là, một tỷ lệ lớn bản án được công bố thuộc những lĩnh vực chứa nhiều thông tin gắn trực tiếp với đời sống cá nhân và gia đình. Gần 971 nghìn bản án, quyết định hôn nhân và gia đình, hơn 409 nghìn vụ việc dân sự và trên 393 nghìn vụ việc hình sự đồng nghĩa với một khối lượng rất lớn dữ liệu có thể liên quan đến quan hệ vợ chồng, con cái, tài sản, nơi cư trú, sức khỏe, hành vi, tranh chấp hoặc hoàn cảnh riêng của các bên. Nghị quyết số 03/2017/NQ-HĐTP đã yêu cầu mã hóa tên, địa chỉ và các thông tin liên quan đến bí mật cá nhân, bí mật gia đình; chủ tọa cũng phải giải thích quyền yêu cầu không công bố những nội dung thuộc bí mật cá nhân, gia đình hoặc kinh doanh. Cơ chế này tạo lớp bảo vệ cần thiết, song tính chất của dữ liệu tư pháp khiến việc bảo vệ không thể chỉ dừng ở thay tên bằng ký hiệu.

Ba là, mã hóa danh tính chưa đồng nghĩa với loại bỏ hoàn toàn khả năng nhận diện cá nhân. Nghị quyết số 03/2017/NQ-HĐTP quy định tên, địa chỉ phải được mã hóa; chẳng hạn tên một cá nhân có thể được thay bằng ký tự và địa chỉ cụ thể được rút gọn theo đơn vị hành chính. Tuy nhiên, một bản án vẫn phải giữ lại đủ tình tiết để bảo đảm giá trị pháp lý và khả năng nghiên cứu. Những dữ kiện như nghề nghiệp, địa bàn, thời điểm xảy ra vụ việc, quan hệ giữa các bên, giá trị tài sản hoặc diễn biến đặc thù nếu được kết hợp với thông tin đã xuất hiện trên báo chí, cổng thông tin hoặc các nguồn mở khác có thể làm tăng nguy cơ suy đoán danh tính. Đây chính là sự khác biệt giữa ẩn tên và ẩn danh thực chất. Kỷ nguyên dữ liệu làm cho một thông tin tưởng như rời rạc có thể trở nên nhận diện được khi được đặt cạnh nhiều dữ kiện khác.

Bốn là, sự ra đời của Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 đặt hoạt động công khai bản án trước yêu cầu pháp lý cao hơn về quản trị dữ liệu. Luật số 91/2025/QH15 được ban hành ngày 26/6/2025 và có hiệu lực từ 01/01/2026; cùng thời điểm, Nghị định số 356/2025/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành cũng có hiệu lực. Trong khi Nghị quyết số 03/2017/NQ-HĐTP được xây dựng từ năm 2017 chủ yếu tập trung vào việc mã hóa và công bố, bối cảnh pháp lý mới đặt ra yêu cầu nhìn dữ liệu theo cả vòng đời xử lý. Vấn đề không chỉ là thông tin nào được đưa lên Cổng điện tử, mà còn phải tính đến khả năng tìm kiếm, sao chép, tái sử dụng, liên kết dữ liệu và mức độ cần thiết của việc duy trì khả năng truy cập lâu dài đối với từng loại thông tin.

Những số liệu trên cho thấy công khai bản án đã trở thành một cấu phần quan trọng của tư pháp số ở Việt Nam. Song khi gần hai triệu bản án, quyết định có thể được tiếp cận trực tuyến, ranh giới cần bảo vệ không còn đơn giản là giữa “công khai” và “không công khai”. Vấn đề sâu hơn là xác định mức độ dữ liệu cần thiết để xã hội giám sát hoạt động xét xử mà không biến phán quyết tư pháp thành hồ sơ có khả năng theo dấu một cá nhân lâu dài. Minh bạch tư pháp trong kỷ nguyên dữ liệu vì vậy phải gắn với nguyên tắc công khai có chọn lọc, ẩn danh thực chất và kiểm soát khả năng tái sử dụng thông tin.

Giới hạn của quyền tiếp cận thông tin trước nguy cơ tái nhận diện và khai thác dữ liệu từ bản án.
Quyền tiếp cận bản án có ý nghĩa đối với giám sát quyền tư pháp, nghiên cứu pháp luật và bảo đảm tính nhất quán của hoạt động xét xử. Song quyền được biết không đồng nghĩa với quyền tiếp cận không giới hạn mọi dữ kiện xuất hiện trong phán quyết. Đặc thù của bản án là vừa chứa lập luận pháp lý cần được xã hội kiểm chứng, vừa lưu giữ những thông tin phát sinh từ đời sống riêng của đương sự, bị hại, người làm chứng và các chủ thể liên quan. Bởi vậy, giới hạn hợp lý phải được xác định theo loại thông tin, mức độ cần thiết, mục đích sử dụng và khả năng gây ảnh hưởng lâu dài đến cá nhân.

Một là, giới hạn đầu tiên nằm ngay ở phạm vi bản án và nội dung được phép đưa ra cho công chúng tiếp cận. Nghị quyết số 03/2017/NQ-HĐTP không đặt ra nguyên tắc mọi phán quyết đều phải được đưa lên hệ thống. Điều 4 loại trừ bản án, quyết định của vụ việc xét xử kín; vụ việc có người tham gia tố tụng dưới 18 tuổi; tài liệu chứa bí mật nhà nước, bí mật kinh doanh thuộc trường hợp được bảo vệ; nội dung liên quan đến bí mật cá nhân, bí mật gia đình chưa được mã hóa và bản án chưa có hiệu lực pháp luật. Cách thiết kế này cho thấy minh bạch tư pháp đã có một ranh giới pháp lý rõ ràng: lợi ích của việc xã hội biết về hoạt động xét xử phải nhường bước khi việc tiết lộ có nguy cơ xâm phạm những lợi ích được pháp luật ưu tiên bảo vệ. Quyền tiếp cận vì thế không thể được hiểu là quyền biết toàn bộ chi tiết của mọi vụ án.

Hai là, ngay đối với phán quyết thuộc diện được đưa lên hệ thống, phạm vi thông tin có thể nhận biết cũng phải dừng ở mức cần thiết để hiểu căn cứ và kết quả xét xử. Điều 7 Nghị quyết số 03/2017/NQ-HĐTP yêu cầu mã hóa tên, địa chỉ và những dữ kiện liên quan đến bí mật cá nhân, bí mật gia đình nếu việc để nguyên thông tin có thể vi phạm nguyên tắc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân. Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 còn xác định thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân chỉ được tiếp cận khi người đó đồng ý; bí mật gia đình về nguyên tắc phải có sự đồng ý của các thành viên gia đình, trừ trường hợp pháp luật cho phép vì lợi ích công cộng hoặc sức khỏe cộng đồng. Ranh giới ở đây cần được hiểu theo hướng công chúng có quyền biết Tòa án đã nhận định và áp dụng pháp luật như thế nào, nhưng không mặc nhiên có quyền biết những chi tiết nhân thân không cần thiết cho việc hiểu phán quyết. Đây cũng là lý do việc thay tên chưa đủ nếu nghề nghiệp, địa điểm rất cụ thể, quan hệ gia đình, thời điểm, tài sản hoặc tình tiết đặc thù vẫn có thể ghép lại để nhận diện một người.

Ba là, quyền tiếp cận không nên bị đồng nhất với quyền tự do khai thác lại dữ liệu cho mọi mục đích. Khoản 4 Điều 2 Nghị quyết số 03/2017/NQ-HĐTP đã xác lập nguyên tắc không được sử dụng bản án, quyết định được đưa lên Cổng thông tin điện tử vào mục đích trái pháp luật. Tuy nhiên, môi trường dữ liệu hiện nay đặt ra tình huống phức tạp hơn nhiều so với thời điểm Nghị quyết được ban hành năm 2017. Một cá nhân đọc bản án để nghiên cứu pháp luật khác về bản chất với việc sử dụng công cụ tự động thu thập hàng nghìn phán quyết, liên kết với nguồn dữ liệu khác rồi xây dựng hồ sơ về lịch sử tranh chấp, hôn nhân, nợ nần hoặc quan hệ pháp lý của từng người. Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân số 91/2025/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, tạo ra khuôn khổ pháp lý mới để nhìn nhận hoạt động xử lý dữ liệu cá nhân. Vấn đề còn thiếu rõ ràng là ranh giới giữa sử dụng dữ liệu tư pháp cho mục đích chính đáng với khai thác thứ cấp nhằm lập hồ sơ, phân loại hoặc đánh giá cá nhân.

Bốn là, khả năng tiếp cận cũng phải được xem xét theo thời gian và phương thức truy xuất, thay vì mặc nhiên coi thông tin đã đưa lên mạng phải luôn dễ dàng tìm kiếm như nhau. Nghị quyết số 03/2017/NQ-HĐTP quy định khá cụ thể về thời hạn đưa bản án lên hệ thống, trách nhiệm mã hóa và việc đính chính khi có sai sót, nhưng chưa thiết lập một cơ chế phân tầng mức độ truy cập theo tính nhạy cảm, thời gian đã trôi qua hoặc nguy cơ tái nhận diện. Đây là giới hạn cần được nhận diện rõ trong kỷ nguyên dữ liệu. Việc một phán quyết được lưu giữ để phục vụ giá trị pháp lý và nghiên cứu không nhất thiết đồng nghĩa với việc mọi chi tiết liên quan đến cá nhân phải duy trì khả năng tìm kiếm phổ quát, liên kết tự động và truy xuất dễ dàng vô thời hạn. Đặc biệt đối với người bị hại, người làm chứng, đương sự trong tranh chấp gia đình hoặc người đã hoàn thành nghĩa vụ pháp lý, khả năng một vụ việc cũ tiếp tục hiện diện như một “dấu vết số” có thể tạo ra những hệ quả vượt xa mục tiêu ban đầu của hoạt động tư pháp.

Giới hạn của quyền tiếp cận bản án có thể xác định theo bốn tầng tương đối rõ gồm không phải mọi phán quyết đều thuộc diện đưa ra công chúng; không phải mọi chi tiết trong phán quyết đều cần được nhận biết; việc được tiếp cận không đồng nghĩa với quyền khai thác lại dữ liệu không giới hạn; và việc lưu giữ không nhất thiết phải kéo theo khả năng truy xuất cá nhân vô thời hạn. Cách tiếp cận này cho phép duy trì giá trị của minh bạch tư pháp mà không biến quyền được biết của xã hội thành quyền theo dấu đời tư của một con người.

Kiến tạo cơ chế công khai bản án có trách nhiệm gắn với tối thiểu hóa dữ liệu và bảo vệ quyền riêng tư.
Minh bạch tư pháp chỉ thực sự có giá trị khi xã hội có thể kiểm chứng lập luận và cách áp dụng pháp luật của Tòa án mà không khiến những người tham gia tố tụng phải đánh đổi quyền riêng tư. Trong bối cảnh dữ liệu có thể được sao chép, liên kết và khai thác ở quy mô lớn, cơ chế hiện hành cần chuyển từ tư duy “mã hóa rồi đăng tải” sang quản trị toàn bộ vòng đời thông tin. Trọng tâm phải là xác định dữ kiện nào thực sự phục vụ lợi ích công cộng, mức độ tiếp cận nào phù hợp và trách nhiệm của cơ quan tư pháp ra sao nếu thông tin được sử dụng vượt khỏi mục đích ban đầu.

Một là, áp dụng nguyên tắc tối thiểu hóa dữ liệu ngay từ khâu chuẩn bị bản án để đưa lên môi trường số. Không phải mọi tình tiết xuất hiện trong hồ sơ tố tụng đều cần thiết đối với mục tiêu giám sát hoạt động xét xử. Tòa án nên giữ lại những nội dung giúp người đọc hiểu diễn biến pháp lý, căn cứ đánh giá chứng cứ, điều luật được áp dụng và lý do hình thành phán quyết; ngược lại, các dữ kiện như địa chỉ quá chi tiết, nghề nghiệp hiếm gặp, thông tin sức khỏe, quan hệ gia đình, số tài khoản, đặc điểm tài sản hoặc hoàn cảnh riêng không có ý nghĩa đối với lập luận nên được lược bỏ hoặc khái quát hóa. Cách tiếp cận này đi xa hơn việc thay tên bằng ký hiệu, bởi mục tiêu cuối cùng phải là giảm khả năng nhận diện một con người nhưng vẫn bảo toàn giá trị pháp lý của phán quyết.

Hai là, xây dựng chuẩn ẩn danh theo mức độ rủi ro thay vì áp dụng một cách mã hóa giống nhau cho mọi vụ việc. Bản án về hợp đồng thương mại không tạo ra mức độ tổn thương tương tự vụ ly hôn, xâm hại tình dục, tranh chấp quyền nuôi con hay vụ việc liên quan đến sức khỏe. Cơ chế mới nên phân loại phán quyết theo tính nhạy cảm, từ đó xác định mức độ xử lý thông tin tương ứng. Nhóm có nguy cơ cao cần được kiểm tra khả năng tái nhận diện trước khi đăng tải; ngoài họ tên và địa chỉ, Tòa án phải xem xét cả tổ hợp dữ kiện có thể dẫn đến việc xác định danh tính. Đối với trẻ em, người bị hại và những người tham gia tố tụng không có lỗi, tiêu chuẩn bảo vệ nên nghiêm ngặt hơn nhằm tránh việc họ tiếp tục chịu hệ quả từ một vụ việc đã kết thúc.

Ba là, kiểm soát phương thức truy xuất và khai thác lại thay vì chỉ kiểm soát nội dung ở thời điểm đăng tải. Có sự khác biệt rất lớn giữa một người đọc bản án để nghiên cứu với việc phần mềm tự động thu thập hàng trăm nghìn phán quyết rồi liên kết chúng thành hồ sơ về từng cá nhân. Cổng dữ liệu tư pháp nên có cơ chế hạn chế thu thập tự động bất thường, lưu nhật ký truy cập đối với hoạt động khai thác quy mô lớn và quy định điều kiện riêng cho mục đích nghiên cứu, thương mại hoặc xây dựng cơ sở dữ liệu thứ cấp. Với các vụ việc đặc biệt nhạy cảm, có thể cân nhắc giảm khả năng tìm kiếm theo những trường thông tin dễ dẫn đến nhận diện sau một khoảng thời gian nhất định. Như vậy, giá trị nghiên cứu của bản án vẫn được bảo tồn nhưng nguy cơ biến phán quyết thành công cụ lập hồ sơ cá nhân sẽ được thu hẹp.

Bốn là, thiết lập cơ chế để cá nhân yêu cầu rà soát, sửa đổi hoặc hạn chế khả năng truy xuất khi quyền riêng tư bị ảnh hưởng không tương xứng. Người có liên quan nên được cung cấp một kênh rõ ràng để phản ánh trường hợp mã hóa chưa đầy đủ, thông tin sai, dữ kiện nhạy cảm bị để lộ hoặc nội dung có khả năng nhận diện ngoài dự kiến. Tòa án phải có thời hạn xử lý, tiêu chí đánh giá và trách nhiệm giải trình đối với quyết định giữ nguyên, sửa đổi hay hạn chế khả năng tiếp cận. Cùng với đó, việc rà soát Nghị quyết số 03/2017/NQ-HĐTP cần đặt trong mối quan hệ với Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025, qua đó hình thành cơ chế thống nhất giữa yêu cầu minh bạch của quyền tư pháp và chuẩn bảo vệ dữ liệu đang được áp dụng từ năm 2026.

Cốt lõi của mô hình này không phải là thu hẹp quyền tiếp cận bản án, mà là tách giá trị pháp lý cần được xã hội biết khỏi những dữ kiện cá nhân không cần thiết phải tồn tại lâu dài trước công chúng. Một nền tư pháp minh bạch không được đo bằng lượng thông tin được đưa lên mạng, mà bằng khả năng giúp xã hội hiểu và giám sát phán quyết trong khi vẫn bảo đảm phẩm giá, đời tư và quyền kiểm soát dữ liệu của những người liên quan. Khi nguyên tắc tối thiểu hóa, ẩn danh theo rủi ro, kiểm soát tái sử dụng và quyền yêu cầu rà soát được kết nối thành một cơ chế thống nhất, việc đưa bản án lên môi trường số mới thực sự trở thành minh bạch có trách nhiệm.

Đưa bản án lên môi trường số đã mở rộng khả năng giám sát hoạt động xét xử và góp phần củng cố tính minh bạch của tư pháp. Tuy nhiên, khi thông tin có thể được tìm kiếm, liên kết và lưu giữ lâu dài, ranh giới giữa quyền được biết của xã hội với quyền riêng tư của cá nhân trở nên phức tạp hơn. Giá trị của một phán quyết nằm ở lập luận, căn cứ pháp lý và cách Tòa án giải quyết vụ việc, không phải ở việc để lại những dấu vết nhận dạng có thể theo một người trong thời gian dài. Bởi vậy, cơ chế công bố bản án cần chuyển từ tư duy chỉ mã hóa thông tin sang quản trị dữ liệu theo mức độ rủi ro, chú trọng tối thiểu hóa dữ kiện, ẩn danh thực chất, kiểm soát việc tái sử dụng và bảo đảm quyền yêu cầu rà soát khi đời tư bị ảnh hưởng. Chỉ khi minh bạch được đặt song hành với trách nhiệm bảo vệ dữ liệu, việc tiếp cận bản án mới vừa phục vụ công lý, vừa tôn trọng phẩm giá và quyền của những người liên quan.

Nguyễn Đình Hoan/Thẩm phán Phó Chánh án Tòa án nhân dân khu vực 8 tỉnh Quảng Trị

Tài liệu tham khảo
1. Chính phủ (2025), Nghị định số 356/2025/NĐ-CP ngày 31/12/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, https://vanban.chinhphu.vn/?classid=1&docid=216387&pageid=27160, truy cập ngày 17/8/2026.
2. Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (2017), Nghị quyết số 03/2017/NQ-HĐTP ngày 16/3/2017 về việc công bố bản án, quyết định trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án, có hiệu lực từ ngày 01/7/2017, Cơ sở dữ liệu quốc gia về văn bản pháp luật, https://vbpl.vn/TW/Pages/vbpq-toanvan.aspx?ItemID=149080, truy cập ngày 17/8/2026.
3. Quốc hội (2013), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thông qua ngày 28/11/2013, Điều 21 về quyền bất khả xâm phạm đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, https://vanban.chinhphu.vn/?docid=171264&pageid=27160, truy cập ngày 17/8/2026.
4. Quốc hội (2015), Bộ luật Dân sự, Luật số 91/2015/QH13 ngày 24/11/2015, Điều 38 về quyền đối với đời sống riêng tư, bí mật cá nhân và bí mật gia đình, có hiệu lực từ ngày 01/01/2017, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, https://vanban.chinhphu.vn/?classid=1&docid=183188&pageid=27160, truy cập ngày 17/8/2026.
5. Quốc hội (2016), Luật Tiếp cận thông tin, Luật số 104/2016/QH13 ngày 06/4/2016, có hiệu lực từ ngày 01/7/2018, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, https://vanban.chinhphu.vn/?docid=184568&pageid=27160, truy cập ngày 17/8/2026.
6. Quốc hội (2024), Luật Dữ liệu, Luật số 60/2024/QH15 ngày 30/11/2024, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, https://vanban.chinhphu.vn/?classid=1&docid=212488&pageid=27160, truy cập ngày 17/8/2026.
7. Quốc hội (2024), Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật số 34/2024/QH15 ngày 24/6/2024, có hiệu lực từ ngày 01/01/2025, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, https://vanban.chinhphu.vn/?docid=211192&pageid=27160, truy cập ngày 17/8/2026.
8. Quốc hội (2025), Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật số 91/2025/QH15 ngày 26/6/2025, có hiệu lực từ ngày 01/01/2026, Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, https://vanban.chinhphu.vn/?docid=214590&pageid=27160&typegroupid=3, truy cập ngày 17/8/2026.
9. Tòa án nhân dân tối cao (2026), Cổng công bố bản án, quyết định của Tòa án, Cổng Thông tin điện tử Tòa án nhân dân tối cao, https://congbobanan.toaan.gov.vn/, truy cập ngày 17/8/2026.